Chương 7 - Quay Về Kiếp Trước
Dãy cửa hàng mặt phố, trong đó có một căn dán tờ giấy đỏ “sang nhượng”. Vị trí rất tốt — sát mặt đường, gần ngã tư.
Tối đó tôi tìm chủ nhà.
Tiền thuê mười lăm đồng một tháng, đóng nửa năm.
Ban ngày dạy học, buổi tối nhập hàng bán quần áo.
Ký ức kiếp trước nói cho tôi biết, cuối thập niên tám mươi đến đầu thập niên chín mươi, buôn quần áo là dễ làm nhất.
Lô hàng đầu tiên là ba trăm đồng váy hoa và quần bò.
Ba ngày bán hết.
Nhưng lô hàng thứ hai gặp trục trặc.
Tôi ngồi tàu hỏa ghế cứng mười hai tiếng đến Quảng Châu nhập hàng. Khi tìm tới chợ bán buôn, trời đã tối.
Trên người mang tám trăm đồng tiền mặt — canh bạc lớn nhất đời này của tôi sau lần kho bị ngập.
Chợ bán buôn ngư long hỗn tạp, ánh đèn mờ tối, khắp nơi là người nói đủ giọng kéo cổ họng mặc cả. Một cô gái trẻ từ phương bắc đến như tôi, đeo túi da rắn sau lưng, giống con thỏ lạc vào bầy sói.
Quầy đầu tiên tôi tìm được, ông chủ nhìn tôi từ trên xuống dưới rồi báo giá.
Kiếp trước tuy chưa từng làm ăn, nhưng hai mươi năm ở nhà chồng dạy tôi một việc — khi nghe người ta nói, phải nhìn mắt, không nhìn miệng.
Mắt ông ta đang cười.
Nụ cười ấy tôi từng thấy. Kiếp trước khi mẹ chồng bưng món thừa đã ôi cho tôi, bà ta cũng cười kiểu đó.
“Đắt quá.” Tôi xoay người đi.
Ông ta gọi với sau lưng: “Em gái, giá còn thương lượng được mà!”
Tôi không quay đầu.
Đi qua ba con phố, hỏi bảy quầy. Cuối cùng tôi tìm được một người đàn ông trung niên thật thà ở một góc khuất. Hàng của ông ta chất lộn xộn, nhưng tôi lật vài món ra xem — vải chắc, đường may không ẩu, kiểu dáng cũng theo kịp.
“Lô này tôi lấy hết. Giá bao nhiêu?”
Ông ta nhìn tôi một cái, báo một con số.
Rẻ hơn quầy đầu tiên bốn mươi phần trăm.
Tôi tốn cả đêm trong kho của ông ta để chọn hàng, kiểm hàng, đếm hàng, đóng gói. Sáng hôm sau trời chưa sáng đã vác hai bao da rắn lớn chạy về ga tàu.
Hai cái bao cộng lại gần bằng trọng lượng của tôi.
Vai bị dây cứa thành hai vệt máu, nhưng tôi không dừng bước.
Tám trăm đồng tiền hàng ấy vận về huyện, một tuần bán hết.
Lô thứ ba, hai nghìn, mười ngày.
Cửa hàng của tôi trở thành tiệm nhộn nhịp nhất con phố này.
Ông chủ quầy hàng trung niên ở Quảng Châu sau này trở thành nhà cung cấp lâu dài của tôi.
Mười năm sau, khi nhắc tới tôi với người khác, ông nói: “Cô gái nhỏ phương bắc ấy, vác hai bao da rắn còn khỏe hơn cả bốc vác trong kho của tôi. Lúc đó tôi đã biết cô ấy sẽ làm nên chuyện.”
Sau khi tốt nghiệp, Lâm Viễn Chinh được phân đến nhà máy cơ khí ở thành phố bên cạnh.
Anh viết cho tôi một lá thư, không có lời tình tứ, chỉ một câu: “Anh ở thành phố bên cạnh, đi xe khách hai tiếng là tới chỗ em. Cuối tuần anh đến thăm em.”
Anh thật sự đến.
Mặc bộ đồ công nhân màu xanh nhà máy phát, tay áo dính mùi dầu máy, trong tay xách một túi táo.
“Anh thấy cửa hàng em bận, anh giúp em chuyển hàng.”
Tối hôm đó sau khi đóng cửa, chúng tôi ngồi trên bậc thềm trước tiệm ăn táo. Đèn đường kéo bóng hai người thật dài.
“Em nghĩ xong rồi.” Tôi cắn một miếng táo.
“Chuyện gì?”
“Chuyện anh nói.”
Anh ngẩn ra hai giây. Rồi cười. Cười như một thằng ngốc.
Cửa hàng mở được nửa năm, chị họ đến.
Chiều hôm đó tôi đang ngồi sau quầy mở kiện hàng, ánh sáng ở cửa bỗng tối đi một mảng.
Chu Thính Lan. Mặc áo khoác dạ đỏ, tóc uốn xoăn, cổ tay đeo một chiếc đồng hồ mạ vàng.
“Thính Hà! Lâu rồi không gặp!”
Giọng ngọt đến phát ngấy.
Tôi đặt kéo xuống, đứng dậy. “Có việc?”
“Nghe nói em về huyện rồi mà.” Ánh mắt cô ta đảo một vòng quanh cửa hàng. “Ồ, tiệm này được đấy. Một tháng kiếm được bao nhiêu?”
Kiếp trước cô ta cũng kiểu này.
Tôi không đáp.
Cô ta đi một vòng, sờ vào chiếc váy hoa. “Chiếc váy này bao nhiêu?”
“Ba mươi lăm.”
Tay cô ta rụt về.