Chương 6 - Quay Về Kiếp Trước
Nhưng tối hôm đó sau khi đếm tiền xong, tôi ngồi trên ngưỡng cửa kho, nhìn cái lỗ trên mái vẫn chưa được vá, bỗng bật cười.
Kiếp trước chết bên đường, trong tay chỉ nắm hai đồng bảy.
Đời này gặp lũ trong kho mà vẫn còn hơn một trăm.
Căn kho trống rỗng, cái lỗ trên mái vẫn lọt gió, nhưng tôi ngồi trên ngưỡng cửa, lưng thẳng tắp.
Mạng của tôi, tôi tự gánh.
Năm ba đại học, tôi chính thức quen nam sinh từng giúp tôi nghe ngóng tin tức.
Anh tên Lâm Viễn Chinh, học Học viện Công nghiệp. Từ năm hai đã bắt đầu thò đầu thập thò ở đầu ngõ, lúc nhìn thực đơn, lúc nhìn tôi, đứng nửa ngày rồi lại đi.
Sau này anh giúp tôi hỏi thông tin ở văn phòng khu phố, tôi mới biết người này không phải nhút nhát, mà là vụng miệng.
Đầu năm ba, cuối cùng anh lấy hết can đảm ngồi xuống ăn một bát.
Lần đầu tới đã bị sặc, cay đến đỏ bừng mặt, nước mũi nước mắt chảy cùng lúc.
“Chủ quán, ớt của em miễn phí à?”
“Năm xu một bát, ớt miễn phí. Không ăn cay được thì đừng cố.” Tôi không ngẩng đầu.
Ngày hôm sau anh lại đến, ngày thứ ba vẫn đến.
Sau này tôi phát hiện mỗi lần anh không ăn miến được bao nhiêu, chỉ ngồi trên ghế nhỏ nhìn tôi đảo muôi, thả miến, nêm gia vị.
“Anh nhìn gì thế?”
“Anh đang nghĩ tại sao em có thể làm thứ năm xu thành hương vị của năm đồng.” Anh nghiêm túc nói.
Tôi sững lại.
Kiếp trước chưa từng có ai nói với tôi câu này. Ở nhà chồng nấu cơm hai mươi năm, chưa ai khen một câu ngon. Làm ngon là đương nhiên, làm không ngon thì bị đánh.
“Vì tôi chịu bỏ nguyên liệu.” Tôi cúi đầu tiếp tục làm việc.
Sau này tôi mới biết nhà anh ở tỉnh khác, bố là giáo viên trung học, mẹ làm trong nhà máy dệt.
Không giàu, nhưng đứng đắn.
Lý do anh đến tìm tôi ngày càng nhiều — giúp tôi chuyển hàng, mang bài toán tới “thỉnh giáo”, sau khi tôi dọn quầy thì đi cùng tôi một đoạn về ký túc xá.
Có một lần trời mưa, anh không mang ô, cởi áo khoác của mình che lên đầu tôi.
Tôi nói anh ngốc à, tự mình dầm mưa thế kia.
Anh nói: “Da anh dày thịt thô, còn nồi nước dùng của em dính mưa thì mai sẽ chua mất.”
Tôi nhìn anh một cái.
Cả người anh ướt sũng, tóc dính trên mặt, nhưng nụ cười rất nghiêm túc.
Trên đoạn đường ấy, từng ngọn đèn đường lần lượt sáng lên, kéo bóng hai người thật dài.
Tôi không nhận lời ở bên anh.
Không phải không thích.
Mà là không chắc mình có tư cách thích một người hay không.
Cuộc hôn nhân kiếp trước giống một hố đen. Tôi đã bò ra khỏi đó, nhưng tay vẫn còn dính bùn.
“Em có thể từ từ nghĩ.” Anh nói.
“Anh chờ được.”
Bốn năm đại học như bị nhấn nút tua nhanh.
Ban ngày lên lớp, thành tích chưa từng rớt khỏi top năm của khóa.
Thời gian rảnh làm gia sư, cuối tuần bán hàng rong kiêm buôn đồ dùng hằng ngày.
Đến cuối năm ba, trong tay tôi dành dụm được gần hai nghìn đồng.
Tin tức của chị họ đứt quãng truyền tới qua thư của mẹ.
Chu Thính Lan ôn thi lại một năm, vẫn không đỗ.
Bác cả đập ấm trà và ba cái bát trong nhà, mắng cô ta là “đồ thua lỗ”.
Bác gái bỏ tiền lớn đi cửa sau với chủ nhiệm hợp tác xã cung tiêu, gả Thính Lan cho con trai ông ta, Triệu Học Văn.
Đám cưới rất nở mày nở mặt.
“Chị họ con mặc một chiếc áo dạ đỏ, cả làng đều đến.” Mẹ tôi viết trong thư.
Mẹ còn nhắc một câu: “Phong thấp của bố con vào đông lại tái phát, dán cao cũng đỡ chút. Ông ấy bảo mẹ cảm ơn con.”
Ngay cả lời cảm ơn ông cũng không dám tự nói, phải để mẹ truyền lời.
Tôi gấp thư lại bỏ vào ngăn kéo.
Mùa hè năm 1987, tôi tốt nghiệp.
Nhà trường phân tôi về Trường trung học số Hai của huyện làm giáo viên Ngữ văn.
Bát cơm sắt.
Ngày đến nhận việc, hiệu trưởng dẫn tôi đi xem lớp học. Khi đi ngang cổng trường, bước chân tôi chậm lại một nhịp.