Chương 4 - Quay Về Kiếp Trước
Bà đứng rất lâu rồi quay vào buồng trong.
Tôi tiếp tục dọn đồ, giả vờ không nghe thấy tiếng lục lọi trong buồng và tiếng khóc bị nén rất thấp.
Sáng hôm sau trời còn chưa sáng, tôi đeo bọc hành lý ra khỏi nhà.
Cả thôn ngâm trong mực đen. Gà trong sân còn chưa gáy.
Khi bước qua cổng, chân tôi đá trúng thứ gì đó.
Tôi ngồi xuống sờ, là một bọc vải.
Mở ra — năm đồng tiền và hai quả trứng luộc.
Trứng vẫn còn ấm.
Tôi ngồi xổm ngoài bậc cửa. Trời vẫn đen, phía đông còn chưa có một tia sáng trắng nào.
Tay nắm hai quả trứng nóng hổi, nước mắt rơi xuống đất bùn. Một giọt, hai giọt.
Tôi dùng tay áo lau mạnh mặt.
Nhét trứng vào túi, siết chặt bọc hành lý trên vai.
Không quay đầu lại.
Chiếc xe khách là một chiếc xe trung ba cũ kỹ không biết đã chạy bao nhiêu vạn cây số.
Da giả trên ghế nứt toác, mút bên trong lộ ra vàng ố và cứng đờ.
Tôi chọn chỗ cạnh cửa sổ, ôm bọc hành lý trên đầu gối.
Xe khởi động run ba cái, rồi chậm rãi lăn bánh.
Ruộng đồng ngoài cửa sổ lùi dần về sau.
Những cánh đồng ngô vàng nối liền từng mảng, dãy núi xa xa màu xanh xám như một bức tường không thấy điểm cuối.
Tôi đã sống trên mảnh đất này mười chín năm.
Kiếp trước còn sống thêm hai mươi bốn năm nữa.
Bốn mươi ba năm, chưa từng rời nơi này quá ba mươi dặm.
Bây giờ tôi phải đi rồi.
Tay thò vào túi, chạm đến cây bút máy. Thân bút được hơi người ủ nóng, như một bàn tay nhỏ bé đang nắm lại tôi.
Tỉnh thành.
Tôi đến đây.
Đại học Sư phạm tỉnh nằm ở phía đông thành phố.
Vừa vào cổng trường là một con đường dài trồng toàn cây ngô đồng, lá đã vàng hơn nửa, trên mặt đất phủ một lớp dày, giẫm lên nghe xào xạc.
Ngày nhập học, tôi mặc bộ quần áo cũ vá víu, đứng giữa những bạn học mặc áo sơ mi vải đẹp, xách vali da nhân tạo, giống một hạt bụi bị gió thổi từ ruộng đồng tới.
Ký túc xá tám người, giường tầng. Sau khi sắp xếp xong, việc đầu tiên tôi làm không phải là đi đến lớp, mà là đi một vòng thật lớn quanh khu vực xung quanh trường.
Tôi đang tìm vị trí để bán hàng rong.
Kiếp trước tôi nấu cơm ở nhà chồng suốt hai mươi năm.
Miến chua cay, lương bì, mì cán tay — món nào cũng làm được. Không phải thiên phú, mà là không làm thì bị đánh, bị đánh mãi tay nghề cũng thành thục.
Ngoài cổng nam trường có một con ngõ nhỏ, sinh viên qua lại không ngớt. Đầu ngõ có một ông cụ bán bánh bao, lồng hấp bốc khói trắng. Giữa ngõ còn có một người phụ nữ bán lương bì khoảng hơn bốn mươi tuổi, khí thế rất lớn, hai cái bàn chiếm gần nửa con đường.
Tôi ngồi xổm bên cạnh nhìn nửa tiếng, trong lòng đã có tính toán.
Ngày hôm sau tôi ném hết năm đồng vào đó. Miến khoai lang, bột ớt, lạc rang, cộng thêm mượn hậu cần nhà ăn một cái nồi nhôm cũ bị nứt miệng.
Tôi dựng một quầy nhỏ ở đầu ngõ. Miến chua cay, năm xu một bát.
Ngày đầu tiên bán được mười bốn bát.
Khi dọn quầy trời đã tối. Tôi ngồi xổm dưới cột đèn đếm tiền xu. Bảy hào.
Kiếp trước nấu cơm hai mươi năm, tay tôi chưa từng chạm vào một đồng tiền.
Bảy hào này là khoản tiền đầu tiên của riêng tôi trong đời này.
Việc bán miến chua cay ngày càng tốt, nhưng rắc rối đến nhanh hơn tôi tưởng.
Tuần thứ ba mở quầy, tôi đang ngồi bận rộn ở đầu ngõ thì một chậu nước lạnh từ trên đầu dội xuống.
Nồi nước miến hỏng hết. Nồi bị đá lật, đáy nồi nhôm đập vào nền đá, vang lên một tiếng loảng xoảng.
Tôi ướt sũng từ đầu đến chân, dầu ớt cay xè làm mắt như bị lửa đốt.
“Ai cho mày bày quầy ở đây?”
Là người phụ nữ bán lương bì trong ngõ, họ Lưu, chiếm chỗ ở đây ba năm. Bà ta chống nạnh, phía sau còn đứng hai người hùa theo.
“Đây là chỗ của tao. Một con bé sinh viên cũng muốn cướp mối à? Biết điều thì cút mau.”
Sinh viên đứng xem xì xào bàn tán, không ai tiến lên giúp.
Tôi ngồi xổm dưới đất, cả người run lên.