Chương 11 - Quay Về Kiếp Trước
Có lúc chuyển hàng, có lúc sửa bóng đèn, có lúc chỉ dựa bên quầy nhìn tôi đối chiếu sổ sách.
“Anh nhìn em làm gì?” Tôi không ngẩng đầu.
“Nhìn dáng vẻ em đếm tiền.”
“Đẹp không?”
“Đẹp. Đẹp hơn lúc em làm miến chua cay.”
Tôi giơ tay giả vờ lấy sổ sách ném anh.
Anh cười né đi.
Mùa xuân năm 1995, khi chọn địa điểm cho cửa hàng thứ bảy, chúng tôi có bất đồng.
Tôi nhìn trúng một con phố mới phát triển ở phía đông tỉnh thành, tiền thuê rẻ, nhưng lượng người còn chưa lên.
Lâm Viễn Chinh cảm thấy rủi ro quá lớn, khuyên tôi chờ thêm.
“Con phố đó bây giờ ngay cả đèn đường còn chưa lắp đủ, em mở tiệm ở đó, ai tới mua?”
“Sang năm đèn đường sẽ lắp xong. Năm sau nữa cả con phố đó sẽ thành khu thương mại.”
“Sao em biết?”
Tôi không thể nói “vì em đã sống qua một đời” được. Chỉ có thể cứng rắn chống đỡ.
“Trực giác của em.”
“Trực giác của em đáng giá bao nhiêu?”
“Đáng để em đặt cược toàn bộ gia sản.”
Anh nhìn tôi rất lâu.
“Được. Nếu em lỗ, anh nuôi em.”
“Không cần.” Tôi trừng anh.
“Anh biết là không cần.” Anh cười. “Nhưng anh muốn em biết, dù có lỗ, em cũng không phải một mình.”
Con phố đó sau này trở thành một trong những khu thương mại sầm uất nhất tỉnh thành.
Ngày cửa hàng thứ bảy khai trương, Lâm Viễn Chinh đứng ở cửa giúp tôi chào khách, gọi đến khàn cả giọng.
Tối đóng cửa, anh tựa vào quầy, giọng khàn như giấy nhám.
“Bà chủ Chu, phục chưa?”
“Phục cái gì?”
“Phục ánh mắt của người đàn ông nhà em — năm đó ở đầu ngõ nhìn em nửa năm mới dám ngồi xuống ăn một bát miến, bây giờ xem ra đó là quyết định sáng suốt nhất đời anh.”
Tôi ném khăn lau vào mặt anh.
Mỗi tháng tôi đều gửi tiền, gửi đồ cho mẹ.
Thư cũng viết ngày càng dài.
Không còn chỉ là “con vẫn tốt, mẹ đừng lo”.
Tôi bắt đầu viết chuyện ở tỉnh thành — tòa bách hóa mới mở, hàng ngô đồng bên trường lại vàng thêm một mùa, trận tuyết đầu năm nay lớn hơn năm ngoái.
Lại viết: Con mua cho bố một chiếc áo bông dày, hai hôm nữa gửi về, bảo bố mùa đông đừng mặc mãi cái áo rách kia nữa.
Mẹ tôi không biết chữ, lần nào cũng nhờ giáo viên tiểu học trong làng đọc cho bà nghe.
Nghe nói lần nào nghe xong bà cũng cười, cười xong lại nhờ giáo viên đọc thêm lần nữa.
Khi đọc đến câu áo bông, mẹ tôi quay đầu nhìn bố tôi một cái. Bố tôi quay lưng đi, nửa ngày không nói gì.
Sau này mẹ viết thư trả lời: “Bố con gấp chiếc áo bông ấy ngay ngắn đặt trên cùng trong tủ, ngày nào cũng sờ một lần, nhưng không nỡ mặc.”
Tôi xem xong thư, không cười, cũng không khóc.
Chỉ ngồi rất lâu.
Ông không phải người xấu.
Ông chỉ là người trong tất cả những thời khắc then chốt đều chọn im lặng.
Tôi không hận ông.
Nhưng có những thứ đã qua thì chính là đã qua.
Mùa xuân năm 1994, mẹ tới tỉnh thành thăm tôi.
Ngồi xe khách sáu tiếng, say xe suốt đường.
Khi tới nơi, mặt bà trắng như tờ giấy.
Tôi ra bến xe đón bà.
Khoảnh khắc bà bước xuống, suýt nữa tôi không nhận ra.
Tóc bà đã trắng hết.
Mới ngoài năm mươi, nhìn như hơn sáu mươi rất nhiều.
“Mẹ.” Tôi đi tới nhận chiếc túi da rắn trong tay bà. Dưa muối giày vải, gà hong gió.
“Đường xóc quá, đùi gà bị va rách một miếng da…”
“Vẫn ăn được. Đi, ăn chút gì nóng đã.”
Tôi đưa bà tới nhà hàng quốc doanh, gọi bốn món một canh.
Bà ngồi trước bàn nhìn đầy món ăn, cầm đũa lên rồi lại đặt xuống. “Chắc tốn nhiều tiền lắm…”
“Mẹ, ăn cơm đi.”
Bà gắp một miếng thịt kho tàu, nhai hai cái rồi không nhai nữa. Vành mắt đỏ lên.
“Con gái mẹ có tiền đồ rồi.” Giọng rất nhẹ, như nói cho chính mình nghe.
Bà ở tỉnh thành một tuần.
Tôi dẫn bà đi dạo bách hóa, mua cho bà một chiếc áo khoác dạ màu xanh navy. Bà đứng trước gương thử đồ xoay mấy vòng.
“Áo đắt thế này, mặc xuống ruộng không hợp.”
“Vậy thì đừng xuống ruộng nữa.”
“Không xuống ruộng thì ăn gì?”