Chương 2 - TUẾ TUẾ THƯỜNG HOAN
Ninh Quốc Công mãi mới chen vào được một câu: “Yến Chu, vị cô nương này là ai thế?”
Ông nhìn ta, rồi lại ngó hai đứa nhỏ đang bám chặt lấy ta, trong mắt thoắt cái ánh lên tia mừng rỡ. Nhưng khi nhìn kỹ thấy Đào Đào và A Bách chẳng có nét nào giống Bùi Yến Chu, tia mừng rỡ kia lại biến thành vẻ cổ quái lạ lùng.
Bùi Yến Chu bất lực nhìn phụ thân: “Cha, người đừng đoán mò bậy bạ.”
Ngài giải thích: “Năm mười hai tuổi con đi du học ở Kim Châu, bất cẩn ngã xuống nước, may nhờ có phụ thân Tô cô nương cứu mạng.” Đoạn ngài bồi thêm: “Nàng là ái nữ của ân công.”
Tia mừng rỡ trong mắt Ninh Quốc Công lập tức tắt ngúm.
Kế đó, ông sực nhớ ra điều gì, bèn đập bàn giận dữ quát: “Rơi xuống nước ư?! Chuyện tày đình như thế, sao con dám giấu biệt ta và mẫu thân con hả?”
Bùi Yến Chu điềm nhiên đáp: “Nói ra cũng chỉ khiến phụ mẫu thêm lo lắng.”
Ninh Quốc Công tức đến mức chòm râu vểnh cả lên: “Ta giận là giận ân công cứu mạng con, thế mà làm cha mẹ như chúng ta lại chẳng thể đích thân tới tận cửa dập đầu tạ ơn! Người ngoài biết chuyện sẽ đàm tiếu Quốc Công phủ ra cái thể thống gì nữa?”
Ta vội vàng đỡ lời cho Bùi Yến Chu: “Bẩm Quốc Công gia, năm xưa Thế tử từng sai người gửi trăm lượng bạc tạ ơn, dẫu cha mẹ tiện nữ đều thoái thác gửi trả nguyên vẹn, song tấm thịnh tình ấy tiện nữ vẫn luôn khắc cốt ghi tâm.”
Bùi Yến Chu nghe xong, đôi mày khẽ nhíu lại. Ngài không gặng hỏi chuyện xưa, chỉ nghiêm trang nhìn ta: “Hôm nay nàng tới đây, rốt cuộc muốn ta làm gì?”
Ta thật thà đáp: Đến xin Thế tử hoàn lại một phần ân nghĩa thuở trước.”
Ninh Quốc Công gật đầu lia lịa: “Phải hoàn, phải hoàn chứ! Ngươi muốn bao nhiêu bạc?”
Ta siết chặt ngón tay, nói ra con số đã tính toán kỹ lưỡng từ lâu: “Dạ, hai mươi lượng ạ.”
“Hai mươi lượng?!” Giọng Ninh Quốc Công bỗng chốc cao vút lên.
Ta ngỡ mình đòi hỏi quá đáng, bèn vội vàng đổi giọng: “Nếu phủ thượng thấy khó xử, mười lượng cũng được ạ.”
Bùi Yến Chu không nhịn được bật cười: “Phụ thân ta là chê nàng đòi quá ít đấy.”
Ninh Quốc Công trừng mắt: “Con gái của ân công lặn lội ngàn dặm tìm đến cửa, ta mà chỉ đãi có hai mươi lượng, truyền ra ngoài thì cái thể diện của Quốc Công phủ này còn vứt đi đâu được nữa?”
Ta lúc này mới thở phào nhẹ nhõm, hóa ra không phải người ta chê mình tham lam.
Bùi Yến Chu nhìn xoáy vào mắt ta: “Nàng từ Kim Châu một mạch chạy nạn đến kinh sư, thật sự chỉ cầu có hai mươi lượng này thôi sao?”
Ta tỉ mỉ tính toán cho ngài nghe: “Hai mươi lượng đối với nhà nông là món tiền không hề nhỏ, nếu tằn tiện chi tiêu cũng đủ sống qua ngày trong bảy tám năm.”
Ngài lắc đầu: “Điều ta hỏi không phải là bạc. Song thân nàng đã tạ thế, nàng hoàn toàn có thể dẫn theo đệ muội ở lại kinh thành, ta sẽ an bài cho các nàng một con đường mưu sinh khác.”
Ta giật thót mình ngẩng phắt dậy: “Sao ngài biết cha mẹ ta không còn nữa?”
Giọng ngài chùng xuống đầy thương xót khi nhắc đến song thân ta: “Nếu hai vị trưởng bối vẫn còn tại thế, một người quật cường hiếu thắng như nàng, quyết chẳng bao giờ chịu hạ mình đi xin lại phần ân nghĩa cũ kỹ này.”
Cuối cùng, ngài trầm giọng: “Tô Hòa, ta hiểu nàng là kẻ không bao giờ muốn mở miệng cầu cạnh người khác.”
3.
Năm năm qua vì muốn giành lại mảnh ruộng bị kẻ láng giềng xấu bụng chiếm đoạt, ta từng liều mạng đánh nhau; từng bó gãy cả tay vẫn cắn răng lội xuống đồng cày cấy; cũng từng ôm chặt lấy hai đứa em trong đêm đông giá buốt mà chịu đựng cơn đói cồn cào.
Những lúc gian nan cùng cực nhất, ta chưa từng rơi lấy một giọt lệ.
Vậy mà Bùi Yến Chu chỉ buông vài câu ngắn ngủi, bao nhiêu uất ức tủi hờn dồn nén suốt năm năm bỗng chốc cuộn trào như thác lũ, khiến khóe mắt ta cay xè, nóng bỏng.
Ninh Quốc Công lại nhìn kỹ ba tỷ đệ chúng ta thêm một lượt.
Ông ướm hỏi: “Hai đứa trẻ này là gì của ngươi?”
Ta đáp: “Dạ, là đệ muội song sinh của con, Tô Đào và Tô Bách.”
Đôi mắt Ninh Quốc Công lại ngập tràn ý cười: “Tốt, tốt lắm! Hai đứa nhỏ trông thật lanh lợi đáng yêu, ta đã bảo làm sao mà là một đôi hài nhi của con cho được!”
Tô Đào nhìn chằm chằm vào mặt ông rồi khen: “Chòm râu của bá bá trông uy phong thật đấy ạ!”
Tô Bách cũng chẳng chịu kém cạnh: “Đợi con lớn lên, con cũng phải để râu uy phong hệt như bá bá!”
Ninh Quốc Công cười đến mức chòm râu run bần bật. Ông một tay dắt một đứa, dỗ dành: “Đi theo bá bá ăn kẹo nào, để a tỷ các con nói chuyện riêng với ca ca một lát.”
Chính sảnh chớp mắt chỉ còn lại ta và Bùi Yến Chu.
Ta chẳng còn tâm trí đâu mà ngẫm ngợi về chuyện tao phùng sau bao năm xa cách, khắp người chỉ thấy ngột ngạt, câu nệ khôn cùng.
Ngài vẫn nhớ rõ từng chuyện nhỏ nhặt trong mái nhà tranh năm ấy. Lúc rót trà cho ta, ngài khẽ cười: “Nàng cao hơn trước nhiều quá, suýt nữa ta nhận không ra.”
Ta quy củ đáp lời: “Thế tử cũng khác xưa nhiều lắm rồi.”
Bùi Yến Chu bật cười thành tiếng: “Ta lại thấy nhớ cái dáng vẻ nàng ép ta giặt đồ năm nào hơn, thuở ấy ta mà không chịu, nàng liền dọa sẽ cắt cơm.”
Ta nghẹn họng hồi lâu, chỉ rặn ra được một câu: “Sao ngài vẫn còn nhớ chuyện ấy làm gì cơ chứ…” Đoạn lại không nhịn được mà phân trần: “Khi đó ta mới có tám tuổi thôi mà.”
Ngài hỏi ngược lại: “Tám tuổi đã dám vỗ ngực hô hào chẳng sợ quyền quý, nay lớn rồi, lá gan sao lại teo tóp đi thế kia?”
Được ngài trêu chọc bằng chuyện cũ, đôi vai đang căng cứng của ta mới dần thả lỏng.
Vừa rồi ngài bảo có thể giữ ta lại kinh thành, ta quả thực đã dao động. Làm ruộng vất vả trăm bề, đầu tắt mặt tối quanh năm suốt tháng, nộp xong sưu thuế thì số thóc lúa còn lại cũng chỉ vừa đủ lay lắt cầm cự qua ngày chờ vụ mùa kế tiếp. Nếu chẳng may gặp phải trận đại hạn như năm nay, thì ngay cả một bát cơm no để lót dạ cũng là điều xa xỉ.
Thuở trước chưa từng thấy cách sống nào khác thì đành cam chịu số kiếp. Nay tận mắt chứng kiến cảnh phồn hoa nơi kinh kỳ, ta chẳng cam lòng dắt díu hai đứa em quay về chốn đồng hoang cằn cỗi để sống một đời tăm tối mù mịt nữa.
Ta hạ giọng hỏi: “Nhưng ta ở lại chốn này thì biết làm gì cơ chứ?”
Bùi Yến Chu bưng chén trà, thong thả hỏi: “Nàng thạo nhất ngón nghề gì?”
Từ nhỏ ta đã lớn lên nơi núi rừng đồng nội, trèo cây bắt chim, lội sông mò cá chẳng việc gì làm khó được ta. Còn về thêu thùa, gảy đàn, ngâm thơ vịnh cảnh, ta đến cái cửa đi lối nào còn chẳng rõ.
Thấy ta ủ rũ chau mày, ngài dịu giọng an ủi: “Không cần vội vã nghĩ thông suốt ngay hôm nay, cứ từ từ mà tìm.”
Bùi Yến Chu đưa trước cho ta hai mươi lượng bạc, lại giữ ba tỷ đệ tạm thời ở lại Quốc Công phủ.
Hảo ý của ngài ta xin nhận, song ta không thể cả đời mang theo hai đứa nhỏ ăn nhờ ở đậu dưới mái hiên nhà người khác mãi được.
Đêm đến, Đào Đào và A Bách lăn lộn không ngớt trên chiếc sập gụ lót đệm êm ái.
Đào Đào reo lên thích thú: “A tỷ ơi, giường này vừa êm lại vừa thơm!”
Nó xoa xoa cái bụng căng tròn, thỏa mãn bảo: “Hôm nay là bữa cơm no nhất đời muội đấy ạ.”
A Bách lập tức bóc mẽ: “Muội mới mấy tuổi đầu mà dám nói hết cả đời?!” Nó lại tràn trề niềm tin nơi ta: “Chỉ cần theo a tỷ ở lại kinh thành, sau này ngày nào chúng ta cũng được ăn no nê thế này cho xem!”
Đào Đào cãi lại: “Không phải mỗi ngày, mà là bữa nào cũng thế cơ!”
Ta giữ chặt hai đứa nhỏ đang quậy phá, nghiêm túc hỏi: “Hai đứa nói thật cho a tỷ nghe, rốt cuộc tỷ có sở trường gì?”
A Bách nương theo ánh đèn ngắm nghía ta nửa ngày, ngập ngừng: “Tóc a tỷ dài lắm ạ.”
Đào Đào rúc vào lòng ta nịnh nọt: “A tỷ còn xinh đẹp nữa, tỷ là cô nương đẹp nhất làng mình!”
Ta vừa bực vừa buồn cười: “Đừng có dỗ ngọt tỷ!” Ta nghiêm giọng: “Tỷ đang hỏi thật lòng đấy, hai đứa phải đáp cho đàng hoàng.”
Bấy giờ hai đứa nhỏ mới đồng thanh hô lớn: “A tỷ trồng trọt giỏi nhất! Nhà mình ruộng đất ít nhất làng, thế mà thu hoạch được nhiều thóc gạo nhất!”
Ta ngửa đầu nhìn lên trần màn, trầm ngâm hồi lâu chẳng thốt nên lời.
Làm ruộng quả thực là bản lĩnh giỏi nhất của ta, nhưng chốn kinh thành hoa lệ này, đào đâu ra đất cho ta cày cấy đây?
Bình luận & Thảo luận
Chia sẻ cảm xúc của bạn về chương này cùng cộng đồng