Chương 2 - THÁI PHI KHÔNG MÀNG THẾ SỰ
Ta đáp phải. Một vị Quý nhân họ Lưu ngồi bên liền đỡ lời:
“Vĩnh An các? Chẳng phải là chỗ kề cận viện củi đó sao? Ta còn ngỡ nơi ấy chẳng có người ở chứ.”
Lại một tràng cười rộ lên.
Hàn thị không cười. Nàng ta đặt chén trà xuống, ra vẻ đầy ái ngại:
“Nội vụ phủ thật tệ quá, nơi như thế làm sao mà ở được. Lát nữa ta sẽ nói với Phương ma ma, cấp thêm cho Trầm tuyển thị hai chiếc chăn bông.”
Ta tạ ơn hảo ý của nàng ta, không nói thêm lời nào khác.
Yến thưởng hoa tàn, ta từ sau hòn giả sơn bước ra, đi qua một vòm cửa thì nghe thấy có tiếng người chuyện trò. Thanh âm từ phía cửa nguyệt môn truyền lại, chính là Hàn thị và Lưu quý nhân.
Giọng Lưu quý nhân the thé:
“Tỷ tỷ hà tất phải bận tâm đến ả, bất quá chỉ là một tên tuyển thị mà thôi.”
Hàn thị cười khẩy một tiếng:
“Ngươi nhìn y phục ả mặc mà xem, ống tay áo đã sờn cả mép, vậy mà vẫn mặt dày mặc tới dự yến. Người của Nội vụ phủ nói với ta, phần lệ của Vĩnh An các ả nhận không thiếu một đồng, mỗi tháng còn bớt xén dầu đèn để đổi lấy gạo thô.”
Lưu quý nhân chặc lưỡi:
“Thứ bần hàn hẹp hòi bực này cũng được tuyển vào cung, đúng là tuyển tú năm sau chẳng bằng năm trước.”
Ta đứng bên này vòm cửa, nín thinh bất động. Đợi bọn họ đi xa rồi, ta mới vòng lối khác trở về Vĩnh An các.
Đêm ấy, ta lấy số dầu đèn tằn tiện được ra đếm lại. Tích cóp ba tháng trời, đổi được mười hai cân gạo thô. Đủ ăn đến cuối tháng.
Chăn đệm mà Hàn thị nói, sau đó quả nhiên được đưa tới. Phương ma ma đích thân dẫn người đem qua hai chiếc chăn mỏng, một tấm đệm đơn. Đệm bốc mùi ẩm mốc, chăn có vết ố cũ kỹ, nhìn qua là biết đồ thải loại từ trong kho.
Trên mặt Phương ma ma mang nụ cười của kẻ vừa bố thí cho đám họ hàng nghèo túng:
“Là Hàn tiệp dư đặc biệt dặn dò đấy, Trầm tuyển thị cần phải ghi tạc ân đức của người ta.”
Ta nhận lấy chăn đệm, nói lời cảm tạ. Đóng cửa lại, ta rũ nhẹ một cái, từ trong đệm rơi ra một con gián chết.
“Mạc nhạ thị phi”, ta thầm niệm trong lòng. Ta quét con gián ra ngoài cửa, trải nệm ngay ngắn rồi ngả lưng nằm xuống.
03
Năm thứ ba nhập cung, xảy ra một biến cố.
Trong số phi tần của tiên đế có một người họ Trịnh, thuở trước từng được ân sủng, sinh được một vị hoàng tử, xếp hàng thứ tư. Mùa thu năm Thừa Bình thứ năm, Trịnh thị phạm tội. Cụ thể phạm tội gì, trong cung lời ra tiếng vào bất nhất. Kẻ bảo nàng ta trước tượng Phật buông lời nguyền rủa Hoàng hậu, kẻ lại nói nàng ta hạ độc thủ vào thiện thực.
Ngày thánh chỉ ban xuống, chỉ ghi vỏn vẹn bốn chữ: “Truất đoạt phong hiệu”.
Lúc Trịnh thị bị áp giải đi, Tứ hoàng tử mới lên sáu. Đứa trẻ sáu tuổi đứng trơ trọi giữa sân, trơ mắt nhìn mẫu thân bị người ta lôi đi xềnh xềnh, đến một tiếng khóc cũng chẳng thốt nên lời. Đứa trẻ ấy chẳng phải không muốn khóc, mà là sợ đến ngây dại.
Không một ai dám thu nhận con trai của phế phi. Theo lệ định, hoàng tử do tội phi sinh ra sẽ do Nội vụ phủ sắp xếp nuôi dưỡng. Nội vụ phủ quả có an bài, đưa đến một tiểu viện tận cùng mé Bắc hoàng thành, điều một lão ma ma và một tiểu thái giám tới hầu hạ. Tiểu viện ấy so với Vĩnh An các của ta còn rách nát hơn nhiều, mái nhà dột nát, cỏ dại trong sân mọc cao ngang thắt lưng.
Tin tức truyền ra, trong cung chẳng ai để tâm. Con trai của một phế phi, ngay cả cái tên người ta cũng chẳng buồn nhắc tới.
Lúc thỉnh an ở Phượng Nghi cung, Hàn thị còn đem chuyện này ra đàm tiếu:
“Nghe đâu lúc Trịnh thị đi, đến một bộ y phục ra hồn cũng chẳng có, mới hay cái thể diện ngày thường toàn là gượng gạo chống đỡ.”
Bên cạnh có kẻ phụ họa:
“Vị Tứ hoàng tử kia kể cũng đáng thương, vớ phải người mẹ như thế.”
Hàn thị xua tay:
“Đáng thương nỗi gì, long sinh long, phượng sinh phượng, con của hạng người ấy thì ra thể thống gì được.”
Thỉnh an tan, ta không đi thẳng về Vĩnh An các. Ta đi đường vòng, lần mò tới tiểu viện phía Bắc kia.
Cánh cổng viện khép hờ, bên trong vắng lặng không một tiếng động. Đẩy cửa bước vào, thấy đứa trẻ đang ngồi xổm nơi góc tường. Y phục trên mình lấm lem dơ dáy, mặt mày vấy đầy bụi tro, dưới mũi còn đọng lại hai vệt nước mũi khô khốc. Lão ma ma ngồi gục đầu ngủ gà ngủ gật dưới hành lang, tiểu thái giám chẳng biết đã biến đi đằng nào. Bếp lò lạnh tanh, trong nồi không có lấy một hạt cơm.
Đứa trẻ ngẩng đầu nhìn ta. Đôi mắt rất lớn, nhưng bên trong chẳng có lấy một tia thần sắc, hệt như một miệng giếng cạn cằn cỗi.
Ta trở về Vĩnh An các bưng một bát cháo. Cháo là phần cơm nguội từ ban sáng, đã nguội ngắt, đi giữa đường ta chẳng có cách nào hâm nóng lại.
Nó đón lấy bát cháo, đôi tay run rẩy, dùng cả hai tay ôm chặt lấy cái bát, như sợ bát cháo sẽ biến mất. Húp trọn bát cháo, nó chẳng nói câu nào. Ta thu lại chiếc bát, xoay người toan bước đi.
Phía sau truyền lại một thanh âm, rất nhỏ, lại rất khàn:
“Ngày mai… người còn đến nữa không?”
Ta dừng bước:
“Đến.”
Ngày thứ hai, ta lại bưng một bát cháo tới. Ngày thứ ba, đem thêm một chiếc bánh nướng. Ngày thứ tư, ta đem một nửa số gạo thô dành dụm được chia cho lão ma ma trong viện. Lão ma ma nhận được gạo, thái độ hòa hoãn hơn đôi phần, bắt đầu đỏ lửa nấu cơm đúng bữa cho đứa trẻ.
Một tháng sau, trên mặt đứa trẻ đã phảng phất chút huyết sắc. Nó ít khi mở miệng, nhưng mỗi lần thấy bóng ta đều lập tức đứng dậy. Không hành lễ, cũng chẳng cất tiếng gọi, chỉ lẳng lặng đứng đó, giương mắt nhìn thẳng vào ta.
Chuyện này chẳng giấu nổi tai mắt trong cung.
Một hôm Phương ma ma tới Vĩnh An các đưa phần lệ, đưa mắt nhìn ta thêm đôi ba lượt:
“Trầm tuyển thị, việc bên kia người bớt dính dáng vào thì hơn. Con của phế phi, ai dính vào kẻ đó rước xui xẻo. Lời này chẳng phải do lão thân tự tiện nói, mà là ý của bên trên đấy.”
Ta không hỏi bên trên là ai. Chỉ khẽ gật đầu, nhận lấy phần lệ.
Chiều tối hôm ấy, ta vẫn như lệ thường bưng cháo tới Bắc viện.
Cách mấy ngày sau, cung nữ thân cận của Hàn thị tìm tới Vĩnh An các. Vừa bước qua cửa đã đưa mắt đảo quanh một lượt, ánh nhìn dừng lại đôi chút nơi ngọn đèn dầu:
“Hàn tiệp dư bảo, Trầm tuyển thị có lòng thiện là việc tốt, nhưng thiện tâm cũng phải xem người mà trao. Đứa trẻ kia xuất thân thế nào, người tự hiểu rõ hơn ai hết. Tiệp dư nhờ nô tỳ chuyển một câu: Có những rắc rối, một khi đã dính vào thì phủi không sạch được đâu.”
Ta rót cho nàng ta một chén nước:
“Xin đa tạ Tiệp dư đã có lời nhắc nhở.”
Cung nữ nọ đứng đợi một hồi, thấy ta chẳng nói thêm lời nào, đành mang theo chén nước còn nguyên vẹn rời đi.
Đêm ấy, ta khều cho bấc đèn sáng thêm một chút. Vĩnh An các chỉ có độc một ngọn đèn, nhưng khều sáng lên là có thể rọi tỏ cả gian phòng.
Đứa trẻ ở Bắc viện kia tên gọi Tiêu Hằng. Người trong cung gọi nó là Tứ hoàng tử, nhưng phần lớn thời gian chẳng ai thèm ngó ngàng gọi tên. Nó sống trong tiểu viện ngập cỏ hoang ấy, tựa như một mầm cây chẳng ai buồn tưới nước.
Ta chẳng biết ngày sau nó sẽ ra sao. Ta chỉ biết cháo để nguội uống sẽ mất ngon, nhất định phải mang sang khi còn hơi ấm.
Bình luận & Thảo luận
Chia sẻ cảm xúc của bạn về chương này cùng cộng đồng