Chương 9 - Quay Về Để Trả Thù
Tôi nhận lấy sủi cảo, hộp nhựa nóng đến mức đầu ngón tay hơi đỏ.
Anh nhìn thoáng qua phong bì trên bàn tôi còn chưa kịp cất, không nói gì.
“Ngày mai bắt đầu nghỉ Tết rồi, có muốn đi xem phim không?”
“Phim gì?”
“Em chọn, dù sao anh mời.”
Khi lá thư thứ chín đến, mùa xuân đã qua một nửa, hàng bạch dương bên sân tập bắt đầu nảy chồi non.
Anh ta viết trong thư rằng trong núi cuối cùng cũng không mưa nữa. Mái ngói phòng học anh ta đã tìm người đến sửa, sẽ không còn dột nữa.
Cậu bé muốn làm phi công kia thi cuối kỳ được hạng nhất lớp, hỏi anh ta khi nào mới có thể chạm vào máy bay thật.
Anh ta bảo cậu bé trước tiên cứ học cho tốt, giữ vững thành tích, sau này sẽ có cơ hội.
Đêm đó, tôi mơ thấy chuyện kiếp trước, lại mơ thấy anh ta.
Trong mơ, anh ta vẫn là thiếu niên mặc áo sơ mi trắng năm ấy, đứng dưới lầu nhà tôi gọi tôi đi học, giọng nói xuyên qua cửa sổ tầng hai.
Khi tỉnh lại, trời còn chưa sáng. Tôi nằm thêm mười mấy phút, sau đó đi rửa mặt.
Nước lạnh tạt lên mặt, đầu óc cuối cùng cũng tỉnh táo.
Khi lá thư thứ mười một đến, tôi đã bắt đầu tham gia tập huấn cấp cao hơn, nửa tháng mới về ký túc một lần.
Thư là Triệu Diễn nhận giúp tôi. Khi đưa thư cho tôi, anh hơi nhíu mày.
“Người đi dạy học tình nguyện kia vẫn luôn viết thư cho em à?”
“Ừ.”
“Em có trả lời không?”
11
Tôi lật phong bì một mặt, đặt vào ba lô.
Triệu Diễn chờ vài giây, không đợi được câu trả lời của tôi, cũng không hỏi tiếp.
“Chiều nay trường bắn trống, muốn đi luyện thêm không?”
Trong lá thư thứ mười ba, anh ta nói cậu bé muốn làm phi công kia đã thi đậu vào trường cấp hai trọng điểm của huyện.
Anh ta gửi khoản trợ cấp dành dụm nửa năm cho gia đình cậu bé, nói đó là học phí và tiền đi đường.
Anh ta nói anh ta làm những chuyện này không phải để chuộc tội, chỉ là muốn lòng mình dễ chịu hơn một chút.
Nhưng cũng có thể đó chính là chuộc tội, anh ta thừa nhận điểm này.
Lá thư thứ mười lăm, anh ta nói mình đã ở trong làng gần ba năm, thị trấn muốn điều anh ta đến trường cấp hai của huyện dạy học.
Anh ta từ chối, nói vẫn muốn ở lại trong làng.
Trẻ em ở đó cần người dạy hơn, còn anh ta cần ở một nơi mà mỗi sáng tỉnh dậy đều biết mình nên làm gì.
Lá thư thứ mười tám, mép giấy hơi ẩm. Anh ta nói trong núi mưa liên tục nửa tháng.
Tường phòng học bong tróc một nửa, anh ta dẫn học sinh sơn lại tường.
Anh ta nói khi sơn tường, anh ta nhớ đến hồi bé cùng tôi sơn hàng rào trong sân nhà tôi.
Lần đó anh ta làm sơn dính đầy người tôi, mẹ tôi đuổi anh ta chạy ba vòng quanh sân.
Những hình ảnh ấy bây giờ nhớ lại vẫn như chuyện ngày hôm qua.
Khi lá thư thứ hai mươi đến, tôi đã lên năm tốt nghiệp.
Triệu Diễn và tôi được phân vào cùng một nhóm dự án, mỗi ngày cùng ra thao trường, cùng lên lớp, cùng suy diễn chiến thuật trên sa bàn.
Tất cả mọi người đều biết chúng tôi ở bên nhau, nhưng không ai ngạc nhiên.
Một ngày nọ, Triệu Diễn ở ký túc của tôi, kéo ngăn kéo tìm một cuốn sổ tay huấn luyện.
Chồng thư đó đã chiếm một nửa ngăn kéo, được xếp ngay ngắn, theo ngày tháng từ cũ đến mới.
Anh nhìn chồng thư hai giây, rồi rút sổ tay ra, đóng ngăn kéo lại.
“Em thật sự chưa từng trả lời à?”
“Những lá thư này em đều đã đọc Nhưng hồi âm và đọc thư là hai chuyện khác nhau. Em vẫn chưa nghĩ xong.”
Khi lá thư thứ hai mươi lăm đến, ngoài trời đang đổ tuyết lớn.
Trên phong bì ngoài bụi đất còn có chút vệt nước, có lẽ người đưa thư đã đi trong tuyết quá lâu.
Anh ta viết một câu chuyện rất dài về mùa đông.
Nói trong làng có một cụ già, mùa đông năm nào cũng mang khoai lang đến cho anh ta. Năm nay cụ già qua đời, trước khi đi còn nhờ cháu trai đưa cho thầy Cố giỏ khoai cuối cùng.
Anh ta nói mình đứng trong sân nhà trống trải của cụ già khóc rất lâu, không phải vì giỏ khoai đó.
Mà vì người tốt trên đời này quá ít, nhưng anh ta lại chính tay hủy hoại người tốt đẹp nhất.
Tôi cầm thư đứng cạnh lò sưởi rất lâu, cho đến khi giọng Triệu Diễn gọi tôi đi ăn vang lên ngoài cửa.
Khi lá thư thứ ba mươi đến, tôi sắp tốt nghiệp và được chọn làm đại diện học viên tốt nghiệp xuất sắc.
Tối hôm đó, tôi mở lá thư thứ ba mươi ra. Nét chữ của anh ta không còn căng cứng như mấy lá đầu.
Chữ viết thả lỏng hơn một chút, nhưng vững hơn.
Trong thư kẹp một tấm ảnh chụp anh ta với bọn trẻ. Bối cảnh là một bức tường vừa được sơn trắng, bên trên dán tranh anh ta dẫn học sinh vẽ.
Anh ta đứng ở hàng sau ngoài cùng, da rám nắng, gầy hơn trước, mặc một chiếc áo phông cũ giặt đến bạc màu.
Biểu cảm trên mặt không phải nụ cười, mà là một kiểu nghiêm túc rất bình thản.
Mặt sau tấm ảnh vẫn là dòng chữ nhỏ đó:
Niệm Niệm, chúc em tốt nghiệp vui vẻ. Anh ở đây rất tốt, không cần lo.
Tôi lật lại mặt trước tấm ảnh, nhìn gương mặt anh ta trọn một phút.
Sau đó tôi đặt tấm ảnh lại vào phong bì, để cùng hai mươi chín lá thư phía trước.
Ngày lễ tốt nghiệp, Triệu Diễn đứng bên cạnh tôi. Chúng tôi mặc cùng kiểu lễ phục, quân hàm trên vai lóe ánh vàng dưới nắng.
Anh nhìn thấy lá thư thứ ba mươi mốt còn chưa mở trong tay tôi, nhẹ nhàng bóp ngón tay tôi.