Chương 8 - Người Gả Thay Chị Gái

🔥 Mời bạn theo dõi page Đậu Xanh Rau Má để đọc sớm nhất các truyện mới nhất!

Anh không nói gì.

Làm xong liền về phòng, như thể chưa từng xảy ra chuyện gì.

Một hôm Trần Giác lén kéo tôi lại, Xuân Hòa, có phải cô vẫn chưa biết một chuyện?”

“Chuyện gì?”

“Bốn mươi ngày cô đi huyện tập huấn, mẹ Triệu viết thư cho Cố Hoài An.”

“Bà không biết chữ.”

“Đúng, bà không biết chữ.” Trần Giác đẩy kính, “Bà vẽ.”

Tôi chợt nhớ ra.

Thư bà Triệu câm gửi cho Cố Hoài An trước đây, mặt sau phong bì đều là những bức vẽ nét đơn giản của bà.

“Bà vẽ gì?”

Trần Giác nhìn tôi một cái, muốn nói lại thôi.

“Cô tự đi hỏi anh ấy đi.”

Tối hôm đó, nhân lúc Cố Hoài An không có nhà, tôi lục gian tây của anh.

Dưới gối tìm thấy một xấp thư.

Mặt trước phong bì là địa chỉ đơn vị bộ đội, mặt sau vẽ đầy những hình vẽ đơn giản xiêu vẹo của bà Triệu câm.

Có một cô gái thắt bím tóc đang cuốc đất ngoài ruộng. Có một người nhỏ bé đeo hộp thuốc vượt núi. Có một căn nhà treo tấm bảng gỗ. Có một cô gái dìu một bà lão đi trong tuyết.

Còn có một bức vẽ, vẽ cảnh trời tuyết lớn, một người nhỏ bé vác một cái bao rất to, đi từng nhà phát đồ. Bên cạnh người nhỏ vẽ một mũi tên, mũi tên chỉ vào ba chữ xiêu vẹo.

Xuân Hòa tốt.

Tôi lật từng trang một.

Từ năm sáu ba đến năm sáu tám.

Năm năm thư. Mặt sau mỗi lá thư, bà Triệu câm đều dùng cách duy nhất của mình nói với con trai nơi tiền tuyến — vợ con đang làm gì.

Cô ấy đang khai đất. Cô ấy trồng khoai lang. Cô ấy học nhận biết thảo dược. Cô ấy khám bệnh cho người ta. Cô ấy trong ngày tuyết lớn cứu cả làng.

Cô ấy rất tốt.

Cô ấy tên Xuân Hòa.

Không phải Xuân Phương.

Lá thư cuối cùng có hình vẽ khác với những lá trước.

Trong tranh có ba người nhỏ. Một là bà Triệu câm — bà vẽ mình thành một hình tròn rất thấp. Một là cô gái thắt bím. Còn một — là một người cao mặc quân phục.

Ba người đứng trước một căn nhà, trên đầu vẽ một mặt trời.

Mặt trời được tô rất mạnh, sáp màu gần như đâm thủng cả giấy.

Tôi ôm xấp thư, ngồi trên giường đất của anh, khóc nức nở.

Cửa kẽo kẹt mở ra.

Cố Hoài An đứng ở cửa, nhìn xấp thư trong tay tôi, vẻ mặt anh lần đầu tiên tôi hiểu được.

Không phải hoang mang. Không phải đề phòng.

Là một người ở tiền tuyến nhận được tranh mẹ gửi, nhìn cô gái thắt bím xa lạ trong tranh ấy suốt năm năm.

Anh nói một câu.

“Trước khi tôi trở về, tôi đã quen cô rồi.”

19

Tối hôm đó bà Triệu câm nấu bốn món, đem chút bột mì trắng ít ỏi trong nhà ra hấp bánh bao.

Bà ấn tôi và Cố Hoài An ngồi ở hai đầu bàn, còn mình ngồi giữa, lúc thì gắp thức ăn cho tôi, lúc thì gắp cho anh.

Ăn được một nửa bà bỗng đặt đũa xuống, từ trong ngực áo lấy ra một gói vải nhỏ.

Mở ra là một chiếc cúc đồng.

Cúc trên quân phục.

Bà đặt chiếc cúc đồng lên bàn, đẩy về phía tôi.

Rồi bà ra hiệu rất lâu — tôi hiểu rồi, ý là: đây là thứ Hoài An gửi kèm theo thư khi gửi về, dặn bà “sau này đưa cho con dâu”.

Khi anh viết lá thư đó, còn chưa biết người gả tới không phải Tần Xuân Phương.

Nhưng bà Triệu câm giữ suốt năm năm, không đưa cho Xuân Phương, cũng không đưa cho ai khác.

Bà đợi được Xuân Hòa.

Tôi nhìn chiếc cúc đồng, lại nhìn Cố Hoài An đối diện.

Gốc tai anh đỏ bừng, nhìn chằm chằm vào cái bánh bao trong bát, một miếng cũng chưa cắn.

Tôi cầm chiếc cúc lên, bỏ vào túi áo trong.

“Tôi nhận.”

Bà Triệu câm cười không tiếng. Cười đến đầy nếp nhăn, như một đóa hoa nhăn nhúm mà nở rộ nhất.

Tối hôm đó khi dọn bát đũa, tôi và Cố Hoài An lần đầu tiên đứng song song trước bếp.

Anh rửa bát, tôi lau khô.

Không ai nói gì.

Nhưng anh rửa mỗi cái bát ba lần.

Tôi đứng bên cạnh chờ.

Không hối một cái bát nào.

20

Cuộc sống như bị ai đó lên dây cót, bắt đầu nhanh hơn.

Nhưng dù nhanh đến đâu, có những thứ là chậm rãi.

Ví dụ như mỗi sáng chum nước luôn đầy sẵn.

Ví dụ như con đường lát đá trước cửa phòng y tế, anh từng viên từng viên lát về phía trước, hai năm mới lát tới đầu làng.

Ví dụ như mỗi năm trước khi vào đông, anh đem giày bông của tôi và bà Triệu câm đặt lên giường đất hơ lại một lượt, lót trong đế giày thêm ngải cứu khô mới phơi.

Anh chưa từng nói.

Tôi cũng chưa từng hỏi.

Nhưng có một năm vào ngày Lạp Bát, tôi đang nấu cháo trước bếp, anh bỗng từ phía sau quàng một chiếc khăn lên cổ tôi.

Khăn dệt bằng vải thô, mũi đan xiêu vẹo — là anh tự học đan, từ thu đến đông, tháo ra ba lần mới miễn cưỡng thành hình.

Tôi sờ chiếc khăn vừa xấu vừa ấm trên cổ, sống mũi cay xè, suýt làm cháo khê.

Năm sáu chín ruộng dược liệu mở rộng đến mười lăm mẫu, công xã nghiệm thu nói “hạng nhất toàn huyện”.

Năm bảy mươi phòng y tế từ một gian mở thành hai gian, bà Triệu câm trồng một hàng hoa hướng dương trước cửa.

Năm bảy hai giỏ tre của Cố Hoài An nổi tiếng, hợp tác xã cung tiêu cố định tới nhập hàng.

Tôi lôi hết sách cũ trong nhà ra, lại mượn thêm một đống từ Trần Giác — khi cô ấy đi, để lại toàn bộ sách vở và ghi chép cho tôi, nói “mấy thứ này ở thành phố không có tác dụng, ở trong tay cô mới gọi là sống.”

Trần Giác vốn có cơ hội về thành, năm bảy mươi có một đợt chỉ tiêu thanh niên trí thức hồi thành.

Cô do dự ba ngày, cuối cùng nhường suất cho cô gái nhỏ tuổi nhất ở điểm thanh niên trí thức.

“Đi rồi ai giúp cô trông ruộng dược liệu?” Cô đẩy kính, nói nhẹ như không, nhưng tôi thấy cô gấp tờ đơn hồi thành lại gấp rồi gấp, cuối cùng nhét xuống dưới gối.

Cô ở lại. Ở phòng y tế của tôi làm trợ lý không biên chế, một ở là nhiều năm.

Ban ngày khám bệnh trồng thuốc, ban đêm tôi ngồi dưới đèn dầu lật sách. Toán, văn, chính trị, địa lý.

Có thứ bác sĩ chân đất không dùng đến, nhưng tôi không dừng lại được.

Có lần Cố Hoài An nhìn qua khe cửa thấy tôi chép bài dưới đèn, hôm sau lặng lẽ thay tim đèn mới, còn thêm nửa ngón tay dầu.

Có lẽ anh nghĩ tôi đọc sách để giảng kiến thức vệ sinh cho người đến khám ở phòng y tế.

Tôi không giải thích.

Có những chuyện, đến lúc tự nhiên sẽ hiểu.

Nếu phát hiện thiếu chương hoặc bất kỳ vấn đề nào, hãy phản hồi cho tôi! :)