Chương 12 - Người Đứng Sau Ngai Vàng
Bên ngoài có tiếng người xì xào: “Nhanh lên, đến cửa Nam uyển rồi.”
Một người khác đáp: “Bệ hạ dặn dò, không được dừng lại, không được mở ra, không để người của Trung cung lại gần.”
Ta nhắm nghiền mắt, nhưng trong lòng chẳng có nửa điểm an tâm.
Bùi Cảnh Hành càng bảo vệ cỗ quan tài này, nó lại càng nguy hiểm. Tống Minh Châu sẽ không buông tha. Cựu bộ hạ của phủ Quốc công sẽ không bỏ qua Những kẻ muốn lợi dụng đứa trẻ để lật ngược tình thế càng không bỏ qua.
Cuối cùng, cỗ quan tài cũng chạm đất. “Bịch” một tiếng, lưng ta đập xuống đau điếng, suýt chút nữa bật ho.
Bên ngoài có kẻ ra lệnh: “Dựng rạp tang lên.”
Lại có người càu nhàu: “Chỗ này âm u bỏ xừ, ai mà muốn thức trắng đêm canh gác chứ?”
Cận thị ngự tiền lạnh lùng quát: “Bệ hạ có lệnh, phải gác đến tận giờ Mão sáng mai. Thiếu một người, chém đầu một người.”
Bốn bề lập tức rơi vào tĩnh lặng.
Ta chờ đợi trong quan tài. Chờ tiếng bước chân tản đi, chờ hơi thở khuất xa, chờ kẽ hở sống sót duy nhất kia xuất hiện.
Chẳng rõ bao lâu sau, dưới đáy quan tài bỗng truyền tới ba tiếng gõ nhẹ. Ta lập tức mở mắt.
Một dài, hai ngắn. Là ám hiệu của cựu bộ nhà họ Hạ Lan.
Ta dùng trâm bạc gõ nhẹ đáp lại.
Rất nhanh, một góc đáy quan tài bị đẩy từ bên ngoài lên. Cỗ quan tài mỏng này lại bị người ta động tay động chân từ trước.
Tấm ván đáy không tiếng động trượt ra, một bàn tay thò vào, vững vàng đỡ lấy vai ta.
Khi được kéo ra khỏi đáy quan tài, trước mắt ta tối sầm. Gió lạnh xộc vào phổi, ta quỳ rạp trên mặt đất, cố kìm nén tiếng ho khù khụ hồi lâu.
Hắc y nhân quỳ gối trước mặt ta: “Thiếu chủ, thuộc hạ đáng chết, đến muộn.”
Ta níu lấy cánh tay hắn: “Đứa bé đâu?”
Hắn đáp khẽ: “Thải Vi hiên. Vẫn còn sống.”
Sợi dây cung căng đến cực hạn trong lòng ta rốt cuộc cũng chùng xuống một thoáng.
La ma ma từ trong góc tối của rạp tang nhào tới. Bàn tay quấn lớp vải dày của bà vẫn đang rỉ máu. “Phu nhân.”
Nhìn thấy bà, nước mắt ta chực trào.
Nhưng ta không được khóc. Hễ khóc là loạn nhịp thở. Hễ loạn nhịp thở là không chống trụ nổi.
Ta liếc nhìn thi hài đứa trẻ trong quan tài. Nó vẫn nằm ngoan ngoãn ở đó.
Ta hạ giọng: “Lắp tấm ván đáy lại đi. Đừng để ai nhận ra ta từng rời khỏi đây.”
Hắc y nhân lập tức tuân lệnh.
La ma ma đỡ ta thay bộ y phục cung nhân cũ sờn màu tro, rồi nhét hết tóc ta vào chiếc khăn vải. Không có gương đồng, ta chỉ có thể nhìn thấy hình hài hiện tại của mình qua ánh mắt của bà. Mặt trắng bệch, môi thâm tím, trên áo dính đầy máu. Trông chẳng giống cung nhân, mà giống một con quỷ vừa ngoi lên từ suối vàng.
Ta bảo: “Thế này lại càng tốt. Nam uyển vốn dĩ đã chẳng phải chốn sạch sẽ gì.”
Hắc y nhân dẫn chúng ta lách qua con đường nhỏ phía sau rạp tang rời đi. Nam uyển bỏ hoang nhiều năm, cỏ dại mọc um tùm, đèn đá phủ kín rêu phong. Phía xa, đuốc của lính gác di chuyển qua lại. Mỗi lần ánh lửa quét ngang, ta đều ngỡ mình sắp đổ gục xuống. Nhưng cứ nghĩ tới con gái, ta lại lê bước tiến về phía trước.
Băng qua một đoạn tường cung sụp lở, Thải Vi hiên cuối cùng cũng hiện ra trước mắt. Trước cửa treo một ngọn đèn leo lét. Dưới ngọn đèn là một bà lão vận áo xám tro. Tóc bà bạc trắng, nhưng tấm lưng lại gù gù thẳng tắp.
La ma ma khẽ nói: “Chính là bà ấy.”
Bà lão thấy ta, từ từ quỳ xuống. Bà không nói năng gì, chỉ giơ nửa mảnh hổ phù lên quá đỉnh đầu.
Ta đỡ bà dậy: “Đừng quỳ. Đứa bé đâu?”
Bà lão quay người đẩy cửa.
Trong phòng không thắp đèn sáng. Chỉ có một chậu đồng nhỏ đốt than, lớp than hồng bị tro che lấp, ấm áp nhưng không dễ phát hiện.
Con gái ta nằm trong chiếc nôi cũ kĩ cạnh chậu than. Con bé nhỏ xíu như một cánh hoa nhăn nheo. Khuôn mặt hơi xanh xao, đôi môi khô nẻ trắng bệch.
Ta nhào tới ôm bế con lên. Con bé khẽ cựa quậy, bật ra một tiếng khóc mỏng manh. Tiếng khóc ấy suýt lấy đi cái mạng già của ta.
Ta ôm siết con vào lòng, nước mắt cuối cùng cũng lã chã tuôn rơi.
“Có nương đây. Nương đến rồi.”
La ma ma quay lưng lại, bờ vai run rẩy liên hồi. Bà lão lấy khăn ấm, bịt kín khe cửa sổ cho ta.
Ta cởi cúc áo, áp con vào lòng. Ban đầu con bé không có sức, phải một lúc lâu sau mới ngậm lấy bú từng ngụm nhỏ.
Khoảnh khắc ấy, ta như được sống lại lần nữa từ cõi chết.
Bên ngoài, gió rít từng hồi. Hắc y nhân khẽ khàng bẩm báo: “Thiếu chủ, trong cung đại loạn rồi. Người của Trung cung đang lục soát Nam uyển, ngự tiền cấm quân đang phong tỏa Cựu Thủy môn, cựu bộ hạ của phủ Quốc công đang bao vây ngoài Thừa An môn.”
Ta ôm đứa con bé bỏng, giọng rất nhẹ: “Loạn thế vẫn chưa đủ.”
La ma ma nhìn ta.
Ta nói tiếp: “Bùi Cảnh Hành muốn dùng cỗ quan tài của ta để cắn chết Tống Minh Châu. Tống Minh Châu lại muốn mượn ta và đứa trẻ để lật đổ Bùi Cảnh Hành. Họ đều ngỡ ta là kẻ chết.”
“Vậy thì để người chết cất lời.”
Bà lão ngước mắt nhìn ta.
Ta lấy từ trong ngực áo ra tờ giấy cũ kia. Dòng chữ “Nếu phụ Tống Yểu, trời đất không dung” vẫn nằm rành rành trên đó.
Ta nhìn rất lâu, rồi đột ngột giao nó cho hắc y nhân:
“Chép thành ba bản.”
“Một bản gửi đến Thừa An môn.”
“Một bản gửi đến linh đường phủ Quốc công.”
“Một bản đưa đến Ngự sử đài.”