Chương 2 - Năm Năm Đợi Chờ
Tôi ngồi trong phòng khách nhà chị họ, hai đứa trẻ đang ngủ trong phòng, ngoài cửa sổ trời đổ mưa.
Tôi gửi một tin nhắn đến số đó: “Đó là ý của anh sao?”
Tin nhắn được gửi đi.
Không có hồi âm.
Một ngày, hai ngày, một tuần.
Tôi lại gửi một tin: “Chu Viễn, anh chỉ cần nói với em một câu. Cho dù anh nói đúng vậy, em cũng chấp nhận.”
Vẫn không có hồi âm.
Chị họ thấy ngày nào tôi cũng nhìn chằm chằm điện thoại, bèn ngồi xuống bên cạnh: “Em tin lời bà ấy à?”
“Em không tin.”
“Vậy thì đừng nhìn nữa.”
“Nhưng anh ấy không trả lời em.”
Chị họ lấy điện thoại khỏi tay tôi, đặt lên trên tủ.
“Lúc bảo em ra nước ngoài, cậu ấy nói gì?”
“Đợi anh ấy.”
“Vậy thì đợi. Nếu cậu ấy là loại người đó, lúc trước đã chẳng nhét sổ hộ khẩu cho em.”
Tôi biết chị nói đúng.
Nhưng chờ đợi một người hoàn toàn không có hồi âm khó khăn hơn tôi tưởng quá nhiều.
Bọn trẻ mỗi ngày một lớn.
Con trai biết lẫy rồi.
Con gái mọc chiếc răng đầu tiên.
Tôi chụp lại tất cả, lưu trong điện thoại nhưng không gửi đi được.
Ba tháng sau, tôi không còn ngày ngày nhìn điện thoại nữa.
Tôi bắt đầu tìm việc.
Chị họ giúp tôi tìm một công việc trong bếp của một nhà hàng Trung Quốc, rửa bát thái rau, một giờ mười hai đô.
Ban ngày chị họ giúp trông con, ban đêm tôi tự dỗ chúng.
Ngày tháng cứ thế trôi qua.
Không tin nhắn.
Không điện thoại.
Không có bất kỳ âm thanh nào từ anh.
Tôi tính lại số tiền trong thẻ ngân hàng.
Đủ dùng tám tháng.
Anh nói đủ nửa năm, thật ra đã để dư cho tôi thêm hai tháng.
Mọi thứ anh đều tính xong.
Ngoại trừ bản thân anh.
04
Một năm sau, tôi từ vị trí thái rau trong bếp chuyển ra quầy thu ngân.
Bà chủ là người Phúc Kiến, thấy tôi tính toán nhanh nên ban ngày để tôi quản sổ sách, buổi tối hỗ trợ kiểm kê hàng.
Lương tăng gấp đôi.
Hai đứa trẻ đã một tuổi rưỡi.
Con trai biết đi, vịn mép sofa từng bước từng bước dịch đi.
Con gái học gọi người trước, mở miệng là gọi “dì”, bởi ngày nào chị họ cũng bế nó.
Con bé chưa từng gọi bố.
Nó chưa từng gặp bố.
Tôi đặt ảnh Chu Viễn làm hình nền điện thoại, tối nào cũng đưa cho hai đứa trẻ xem.
“Đây là bố.”
Con trai nhìn chằm chằm màn hình rồi đập một cái, nước miếng dính đầy màn hình.
Con gái chui đầu vào chăn, không chịu nhìn.
Tôi lau sạch màn hình, đặt điện thoại dưới gối.
Số điện thoại ấy tôi đã không gọi nữa.
Nhưng ngày mười lăm hằng tháng, tôi vẫn gửi một tin nhắn sang.
Nội dung lần nào cũng giống nhau.
“Các con rất khỏe. Em cũng rất khỏe.”
Chưa bao giờ có hồi âm.
Đến tháng thứ tám, tin nhắn hiển thị gửi thất bại.
Số điện thoại đã ngừng hoạt động.
Tôi nhìn dấu chấm than màu đỏ ấy rất lâu, sau đó chụp màn hình lưu lại đoạn trò chuyện rồi thoát ra.
Hôm đó chị họ đi làm về, thấy tôi ngồi ngoài ban công thì bước tới hỏi: “Lại gửi à?”
“Số ngừng hoạt động rồi.”
Chị không nói gì, đứng cạnh tôi một lúc.
“Em có từng nghĩ,” chị lên tiếng, “có lẽ bên đó thật sự xảy ra chuyện gì rồi không?”
“Có.”
“Vậy em có muốn—”
“Không về.”
Tôi trả lời rất nhanh.
Không phải tôi không muốn về.
Là anh bảo tôi đừng về.
Từng câu anh nói, tôi đều nhớ.
“Đưa con đi trước.”
“Đợi anh liên lạc.”
“Đừng nghe số lạ.”
Anh đã sắp xếp từng bước.
Anh đẩy tôi ra ngoài, còn mình ở lại chặn phía sau.
Nếu tôi quay về, tất cả những gì anh làm trước đó sẽ thành công cốc.
Tôi không thể về.
Nhưng tôi phải sống tiếp.
Hai năm sau, bà chủ nhà hàng muốn về nước, hỏi tôi có muốn tiếp quản quán không.
Phí sang nhượng bà giảm cho tôi một phần, cho trả góp, mỗi tháng trừ từ doanh thu.
Tôi nhận.
Chị họ nói gan tôi lớn.
Tôi nói không phải gan lớn, mà là không còn đường lui.
Tiền trong chiếc thẻ ngân hàng đã tiêu hết từ lâu.
Số tiền anh để lại giúp tôi vượt qua tám tháng khó khăn nhất.
Sau đó tất cả đều do tôi tự kiếm.
Nhà hàng không lớn, sáu chiếc bàn, một đầu bếp, một phụ bếp, cộng thêm tôi.
Thực đơn do tôi tự sửa, đổi những món Phúc Kiến trước đây thành các món gia đình miền Bắc.
Thịt chiên chua ngọt kiểu Đông Bắc, cà tím khoai tây ớt xanh mì cà chua trứng.
Không ngờ việc làm ăn cũng khá ổn.
Xung quanh có nhiều du học sinh, không ít người muốn ăn hương vị quê nhà.
Có một cô gái nhỏ thường xuyên tới ăn, lần nào cũng gọi một bát mì, ăn được nửa bát là bắt đầu khóc.
Tôi hỏi cô bé làm sao.
Cô bé nói nhớ nhà.
Tôi cho thêm một quả trứng ốp la, không tính tiền.
Buổi tối đóng cửa, tôi ngồi trong quán tính sổ, tính xong lại xem ảnh của bọn trẻ.
Con trai ba tuổi, ở trường mẫu giáo đã học được cách dùng đũa.
Con gái ba tuổi, thuộc ba bài thơ cổ, ngày nào cũng đuổi theo con mèo nhà chị họ.
Chúng càng lớn càng giống Chu Viễn.
Lông mày của con trai.
Cằm của con gái.
Có lúc nhìn khuôn mặt chúng, tôi sẽ ngẩn ngơ.
Giống như anh chưa từng biến mất.
Giống như anh vẫn luôn ở đây.
Cuối năm thứ ba, tôi trả hết phí sang nhượng.
Nhà hàng chính thức thuộc về tôi.
Tôi đứng trước cửa quán, nhìn những chữ trên biển hiệu, ngẩn người một lúc.
Tối hôm ấy, tôi phá lệ gửi thêm một tin nhắn vào số điện thoại đã ngừng hoạt động kia.
Đương nhiên không thể gửi đi.
Nhưng tôi vẫn gõ dòng chữ ấy.
Bình luận & Thảo luận
Chia sẻ cảm xúc của bạn về chương này cùng cộng đồng