Chương 1 - Mùa Thu Năm Ấy Nửa Triều Đình Gặt Lúa
Vụ thu thiếu người, ta lừa nửa triều đình đến cày ruộng.
Nhà ta làm nghề cày ruộng.
Nói cho chuẩn xác thì là có rất nhiều, rất nhiều, rất nhiều ruộng đất.
Những năm trước, ta thích nhất mùa thu, bởi vì hễ mở mắt ra là thấy toàn tiền.
Năm nay thì ta chẳng thích nổi nữa.
Bởi vì tám trăm khoảnh lúa đồng loạt chín rộ, đám tá điền dài hạn trong nhà mệt đến mức ngã quỵ mất một nửa, nửa còn lại cứ hễ nhìn thấy lưỡi liềm là rơi nước mắt.
Cha hỏi ta tính sao.
Ta trầm ngâm hồi lâu, bèn nhấc bút viết một phong thư gửi cho công tử Tạ gia vừa mới định thân:
“Gió thu nổi, lúa trổ vàng, thiếp chốn ruộng đồng ngày đêm nhớ chàng da diết. Phu quân có thể đến tương trợ chăng?”
Chiều hôm ấy, Tạ Chấp Hành cưỡi tuấn mã vội vã chạy tới.
Chàng y quan tươm tất, chỉnh tề, trong ngực còn giấu một chiếc trâm ngọc định tặng ta.
Ta cảm động vô cùng, bèn thuận tay nhét ngay vào lòng bàn tay chàng một chiếc liềm gặt lúa:
“Phu quân, mười hai mẫu ruộng phía đông nhé.”
Về sau, câu nói ấy truyền khắp cả kinh thành.
Mùa thu năm ấy, nửa triều đình đều từng đến nhà ta gặt lúa.
1
Thuở thiếu thời, cha ta có hai sở thích:
Một là mua đất, hai là khuyên người khác bán đất cho mình.
Trước lúc lâm chung, tổ phụ để lại cho ông ba trăm mẫu ruộng tốt. Cha ta dùng hai mươi năm ròng rã, biến ba trăm mẫu ấy thành tám trăm khoảnh, lại tiện tay tậu thêm sáu khu vườn quả, ba cánh rừng dâu, hai đầm cá lớn cùng một ngọn đồi chè mà hễ ta bước chân vào là lạc lối.
Hồi còn nhỏ, ta cứ ngỡ nhà ai trong thiên hạ cũng rộng lớn nhường ấy.
Mãi đến năm bảy tuổi, ta sang nhà bạn học cùng trường làm khách. Đứng trước một khoảnh đất trồng rau vuông vức cỏn con ở sân sau nhà nàng, ta ngơ ngác hỏi: “Thế ruộng đất nhà bạn đâu cả rồi?”
Bạn học chỉ xuống dưới chân: “Đây chính là nó.”
Ta bàng hoàng sững sờ rất lâu.
Về đến nhà, ta ôm chầm lấy cha mà khóc nức nở một trận, chỉ vì thấy nhà bạn mình sao mà nghèo xơ xác đến thế.
Cha ta cũng sụt sùi khóc theo, ông vỗ về ta bảo: “Mãn Thương à, con nhất định phải biết nâng niu ruộng đất nhà mình.”
Bởi vậy từ thuở bé, ta đã hết mực nâng niu.
Biểu hiện cụ thể là: nữ nhi nhà người ta mười ba tuổi học cầm kỳ thi họa, ta mười ba tuổi đã biết xem văn tự khế ước đất đai.
Người ta mười lăm tuổi tham dự tao đàn thi hội, ta mười lăm tuổi cùng trang đầu tranh cãi xem một mẫu ruộng nước thì cần bón bao nhiêu phân.
Người ta mười sáu tuổi kén chọn phu quân, ta mười sáu tuổi ngồi xổm bên bờ ruộng cặm cụi nghiên cứu giống lúa mới nhập về.
Mẫu thân ngày đêm âu lo, sợ ta không gả đi nổi.
Cha ta lại chẳng mảy may bận tâm: “Gả không được thì tuyển rể tới cửa.”
Mẫu thân nhìn sang của hồi môn là tám trăm khoảnh đất của ta, lặng thinh hồi lâu, ngẫm lại cũng thấy quả thực chẳng phải chuyện gì to tát.
Về sau, ta vẫn định thân.
Đối tượng là trưởng tử của Tạ gia, Tạ Chấp Hành.
Tạ gia là dòng dõi thế gia thanh quý nức tiếng chốn kinh kỳ, tổ tiên từng có ba vị Đế sư, hai vị Thủ phụ.
Đến đời Tạ Chấp Hành, bản thân chàng cũng tranh khí, mười chín tuổi đỗ Thám hoa, hai mươi hai tuổi vào Viện Hàn lâm nay hai mươi tư, đã là một trong những lang quân mà các khuê tú kinh thành khao khát được gả nhất.
Còn vì sao lại là “một trong những”, bởi vì người thứ hai là tiểu hầu gia Hoắc Lâm Xuyên của phủ Trấn Bắc Hầu.
Người thứ ba là Ninh Vương thế tử Tiêu Cảnh Hanh.
Ba người bọn họ quanh năm chiếm cứ ba vị trí đầu bảng trong mộng của các thiếu nữ chốn khuê phòng.
Hôm ta và Tạ Chấp Hành định thân, khắp kinh thành ai oán ngập tràn.
Chính ta cũng thấy bất ngờ.
Không phải vì chàng quá đỗi ưu tú.
Mà bởi vì trông chàng chẳng có vẻ gì là biết làm ruộng cả.
Ngày đính ước, chàng vận một bộ gấm bào màu nguyệt bạch, bên hông đeo ngọc trắng, đứng sừng sững giữa hoa sảnh nhà ta. Dáng người chàng thanh mảnh cao ráo, tao nhã hệt như một nhánh trúc thanh khiết không vướng bụi trần.
Còn ta hôm ấy vừa từ thôn trang trở về, dưới đế giày vẫn còn dính bùn đất.
Bà mối đem bát tự của hai đứa khen ngợi lên tận mây xanh bảo là trời sinh một đôi, duyên trời tác hợp.
Ta nhìn chàng chằm chằm một hồi, rồi ghé tai thì thầm hỏi mẫu thân: “Chàng gánh nổi bao nhiêu cân?”
Mẫu thân suýt nữa phun cả ngụm trà ra ngoài.
Tạ Chấp Hành hiển nhiên là nghe thấy hết, bởi vì bàn tay đang bưng chén trà của chàng khẽ khựng lại một nhịp.
Ta vội vàng phân bua: “Ta không hề chê bai chàng đâu.”
Sắc mặt chàng lúc này mới dịu đi đôi phần.
Ta bồi thêm một câu: “Không biết thì có thể học mà.”
Tạ Chấp Hành đặt luôn chén trà xuống bàn.
Kể từ dạo ấy, dẫu hai nhà đã đính ước, nhưng quan hệ qua lại giữa hai đứa chẳng mấy mặn mà.
Chàng bận làm quan, ta bận cày cấy.
Thi thoảng chàng tặng ta thư họa, ta đem kê dưới sổ sách tính toán.
Ta gửi tặng chàng lúa mì mới gặt, quản sự phủ chàng phải kinh ngạc hỏi đi hỏi lại tới ba lần: “Cô nương, thật sự là tặng nguyên cả một xe cộ ạ?”
Đương nhiên là cả xe rồi, nửa xe trông bần tiện lắm.
Cho đến mùa thu năm nay.
Xảy ra biến cố lớn.
Trước tiên là mưa dầm dề ròng rã suốt nửa tháng trời, vụ thu hoạch bị chậm trễ trọn vẹn mười ngày.
Đến khi trời vừa hửng nắng ráo, lúa nước, kê vàng, đậu đỗ cùng cao lương khắp các thôn trang đều đồng loạt chín rộ, hệt như đã hẹn trước với nhau vậy.
Trang đầu Lão Lý đứng trước mặt ta, mặt mày cắt không còn giọt máu: “Cô nương ơi, thu gom không xuể rồi.”
Ta chẳng tin chuyện không giải quyết nổi: “Tăng thêm người làm.”
“Người xung quanh thuê được đều đã thuê hết sạch rồi.”
“Tăng thêm tiền công.”
“Tiệm lương thực Triệu gia cũng đang tranh giành nhân công, giá công nhật đã bị đội lên gấp ba lần rồi ạ.”
Lòng ta khẽ thót lại một cái.
Tiệm lương thực Triệu gia chính là lái buôn lương thực lớn nhất vùng này.
Triệu lão bản quanh năm thích làm nhất hai việc: một là đến mùa thu hoạch thì tranh giành tá điền thời vụ với nông dân, hai là đợi đến khi lúa thóc của mọi người thu gom không kịp, phơi phóng không xong, bèn nhân cơ hội ép giá xuống tận đáy để thu mua ồ ạt.
Năm nay, lão rõ ràng là đã nhắm trúng Hứa gia chúng ta.
Cha ta sốt ruột đi đi lại lại quanh sân: “Kéo dài thêm vài hôm nữa, ngộ nhỡ trời lại đổ mưa thì lúa ngoài đồng sẽ thối rữa hết mất.”
Ta cũng như ngồi trên đống lửa.
Tám trăm khoảnh ruộng chứ ít ỏi gì!
Thối rữa đâu chỉ là lúa thóc, mà đó chính là tính mạng của ta.
Đêm hôm ấy, ta ngồi dưới ngọn đèn trầm ngâm suốt nửa đêm, cuối cùng ánh mắt dừng lại ở tờ hôn thư của Tạ gia đặt cạnh bàn trang điểm.
Trong đầu ta bỗng nảy ra một ý nghĩ táo bạo.
Sáng sớm hôm sau, một phong thư tình ý dạt dào từ Hứa gia đã được hỏa tốc đưa đến Tạ phủ.
Ta viết vô cùng chừng mực, dẫu sao nam nữ thụ thụ bất thân.
Chỉ có duy nhất một câu hơi lộ liễu: “Gió thu nổi, lúa trổ vàng, thiếp chốn ruộng đồng ngày đêm nhớ chàng da diết. Phu quân có thể đến tương trợ chăng?”
Tiểu Đào đứng bên cạnh xem xong bức thư, muốn nói lại thôi: “Cô nương, người thật sự nhớ Tạ công tử đến thế sao?”
“Đương nhiên.”
“Nhớ đến mức nào ạ?”
Ta phóng tầm mắt nhìn cánh đồng lúa chín vàng ươm ngoài cửa sổ: “Ít nhất cũng phải nhớ bằng mười hai mẫu ruộng.”
Tiểu Đào cạn lời luôn.
Bình luận & Thảo luận
Chia sẻ cảm xúc của bạn về chương này cùng cộng đồng