Chương 7 - Lời Hẹn Dưới Ánh Đèn
Tôi chỉ cúi đầu nhìn hai cái tên đặt cạnh nhau trên tờ đăng ký nguyện vọng.
Chúng nằm sát nhau đến thế.
Gần đến mức giống như chưa từng bị chia cắt.
**4**
Quầy căng-tin cũ nằm phía sau sân vận động.
Bây giờ nó đã biến thành cửa hàng bán đồ lưu niệm của trường, trên cửa kính dán dòng chữ “Điểm bán đồ lưu niệm cho cựu học sinh”.
Bên trong tối om, trên kệ bày bán móc khóa huy hiệu trường, bưu thiếp, túi tote.
Thiếu niên Cố Hoài Tự đứng trước cửa, sững sờ rất lâu.
“Bà chủ đâu rồi?”
“Chuyển đi rồi.”
“Bác ấy chẳng bảo là sẽ bán ở đây đến năm tám mươi tuổi sao?”
“Trường cải tạo lại, gọi nhà đầu tư đồng nhất.”
Cậu ấy “ồ” lên một tiếng.
Tiếng “ồ” ấy rất khẽ, khẽ đến mức như sợ làm kinh động điều gì.
Căng-tin hồi cấp ba rất hẹp.
Mùa hè chật cứng người mua nước, tủ lạnh cũ kỹ, mở ra sẽ bốc lên một làn khói trắng.
Mỗi lần Cố Hoài Tự chạy vào, đều có thể giành được hai chai Coca lạnh ở tận cùng.
Có lần tôi hỏi cậu ấy sao lúc nào cũng mua hai chai.
Cậu ấy nói: “Một chai cho cậu, một chai ứng trước niềm vui cho tôi của tương lai ở Đại học Bắc Thành.”
Tôi hỏi: “Bây giờ cậu không uống à?”
Cậu ấy làm vẻ mặt rất nghiêm túc.
“Tôi sợ uống vào ảnh hưởng đến phong độ làm bài, đợi thi xong rồi uống chai bự.”
Về sau, vào ngày thi xong đại học, cậu ấy thực sự mua một chai lớn, đứng trước cổng trường mở nắp, nước ngọt xịt đầy tay.
Cậu ấy cười rạng rỡ như giành được cả thế giới.
Thiếu niên Cố Hoài Tự đặt hai chai Coca tối nay lên bậc thềm trước cửa hàng lưu niệm.
“Cậu uống không?”
Tôi lắc đầu.
Cậu ấy cúi xuống nhìn hai chai nước.
“Ngày xưa cậu thích mà.”
“Sau này rất lâu không uống nữa.”
“Tại sao?”
Tôi nhìn hình bóng phản chiếu mờ nhạt trong cửa kính.
Bên trong có bóng dáng tôi của tuổi hai mươi tám, cũng có cậu ấy của tuổi mười bảy.
Giữa hai người bị ngăn cách bởi miếng dán huy hiệu trường trên cửa, giống như bị ngăn cách bởi một tấm kính thời gian trong suốt.
“Mỗi lần uống đều sẽ nhớ đến có người nói hẹn gặp ở Bắc Thành.”
Ngón tay thiếu niên Cố Hoài Tự siết chặt.
Thân chai bị cậu bóp phát ra tiếng kêu khe khẽ.
Tôi cầm lấy một chai, vặn nắp.
Bọt khí trào lên, phát ra một tiếng xì nhẹ.
Tôi uống một ngụm.
Vị lạnh đã phai, vị ngọt cũng nhạt.
Thiếu niên Cố Hoài Tự nhìn tôi, ánh mắt rất bối rối.
“Hạ Chi, tôi vẫn không tin.”
“Ừ.”
“Tôi thực sự không tin mình lại thành ra như vậy.”
Cậu ấy ngồi xổm trên bậc thềm, tay áo đồng phục rủ xuống, để lộ một vết xước nông trên cổ tay.
Tôi nhớ vết thương này.
Hôm đó cậu ấy trèo tường đi mua Coca, lúc nhảy xuống cổ tay cọ vào lớp xi măng bên mép tường.
Tôi dán băng gạc cho cậu ấy, cậu ấy còn chê màu hồng mất mặt.
“Cậu dám bóc ra, tôi sẽ mách thầy Châu chuyện cậu trèo tường.”
Cậu ấy lập tức giấu tay ra sau lưng.
“Hạ Chi, bây giờ cậu ngày càng biết đe dọa người khác rồi đấy.”
Tôi nhìn vết thương trên cổ tay thiếu niên, chợt cảm thấy cuộc gặp gỡ này tàn nhẫn đến tột cùng.
Cậu ấy lao đến từ đêm tối cuồng nhiệt nhất, tay vẫn cầm chai Coca lạnh, trong lòng ấp ủ nguyện vọng vừa điền xong.
Vậy mà lại bị ép phải nghe tôi kể xong mười năm cậu ấy vắng mặt.
Thiếu niên Cố Hoài Tự ngẩng lên.
“Có phải gia đình tôi xảy ra chuyện gì không?”
“Tôi không biết.”
“Có phải bố mẹ tôi ép tôi không?”
“Tôi không biết.”
“Có phải tôi không liên lạc được với cậu? Điện thoại mất? Đổi số? Hay có người ngăn cản?”
Tôi nhìn cậu ấy.
Cậu ấy hỏi rất gấp, giống như chỉ cần hỏi đủ nhiều, là có thể tìm ra trong đó một đáp án bớt khó coi hơn.
Tôi nói: “Cố Hoài Tự.”
Cậu ấy khựng lại.
“Anh ta không xấu đến mức cần bị phán xét. Anh ta chỉ là không quay lại.”
Thiếu niên Cố Hoài Tự sững sờ.
Câu nói này khó chịu hơn bất cứ lời mắng mỏ nào.
Tôi biết.