Chương 16 - Lời Gọi Của Bầy Sói
Sau đó là giọng chú Nghiêm, rất bình tĩnh: “Vậy thì nói một câu cảm ơn trước đi.”
“Đừng—” Giọng Triệu Mạn đột nhiên cao lên một tông, giống như sự pha trộn giữa cảm giác xấu hổ và ngượng ngùng nào đó, “Đừng nói cảm ơn tôi. Tôi chỉ là—xét từ góc độ hiệu suất—nuôi một con người thực sự rẻ hơn việc sửa hàng rào ba lần. Hoàn toàn là cân nhắc về mặt chi phí.”
11
Việc xây lại nhà gỗ diễn ra nhanh hơn dự tính.
Triệu Mạn nói một tháng, thực tế chỉ dùng hết mười tám ngày.
Không phải vì cô ta đốc thúc gắt gao—mặc dù cô ta thực sự có giục. Mà là vì đội tuần tra của toàn bộ khu bảo tồn đã tự nguyện tham gia thi công. Lão Trần dẫn theo ba nhân viên kiểm lâm lớn tuổi đốn củi, Tiểu Châu lái xe chở vật liệu, ngay cả mấy nhân viên thời vụ bên sườn Nam cũng đến giúp đỡ.
“Hai mươi ba năm rồi,” Lão Trần vừa bào ván gỗ vừa nói với Tiểu Châu, “Lần đầu tiên chú thấy làm cái nghề này cũng hăng hái ra phết.”
Ngôi nhà gỗ mới được xây trên vị trí cũ—nhưng to hơn một vòng.
Phần diện tích dôi ra không phải do Triệu Mạn duyệt. Là tự chú Nghiêm bỏ tiền túi xây thêm—chú ấy xây thêm một cái sân hiên nhỏ nối dài ra phía Tây, hướng thẳng về phía bìa rừng sườn Bắc.
“Sau này cháu có thể đứng ở đây nhìn thấy bọn chúng rồi.” Chú ấy nói với tôi, “Không cần mỗi lần phải đi xa như vậy nữa.”
Tôi đứng giữa khung nhà gỗ chưa hoàn thiện, ánh nắng lọt qua mái nhà chưa lợp xong, hắt lên những tấm ván gỗ mới bào, ấm áp như mật ong.
Không khí ngập tràn mùi gỗ mới—mùi gỗ thông trộn lẫn với bạch dương, ngòn ngọt man mát.
Tôi nhắm mắt lại hít một hơi thật sâu.
Sau đó—
“Ư.”
m thanh thoát ra khỏi cổ họng khiến ngay cả chính tôi cũng giật mình.
Không phải là tiếng rên rỉ sợ hãi và bị động như trước kia.
Là—
Một loại biểu đạt—chủ động và có ý thức.
Giống như đang nói: Tốt. Nơi này tốt.
Chú Nghiêm đang đứng ở cửa, tay cầm mấy chiếc đinh, cả người cứng đờ lại.
Rồi chú ấy chớp mắt liên tục mấy cái, quay mặt đi, giả vờ như đang tìm búa.
Nhưng tôi nhìn thấy khóe môi chú ấy đang cong lên—cong lên rất nhiều.
Mười tám ngày sau.
Vào ngày nhà gỗ hoàn thiện, nhóm của giáo sư Lã vẫn chưa đi—họ đã kéo dài thời gian quan sát, bởi vì “dữ liệu quá quý giá”.
Triệu Mạn cũng đến.
Cô ta đứng trước căn nhà gỗ mới, hai tay đút trong túi áo khoác, đánh giá cấu trúc gỗ mới tinh trước mặt.
“Chắc chắn hơn cái trước nhiều đấy.” Cô ta nhận xét, giọng điệu đậm chất công sở, “Ít nhất thì mức độ chịu gió cũng đủ rồi.”
Chú Nghiêm không đoái hoài đến câu nói này của cô ta, chú ấy đang lắp ổ khóa mới cho cánh cửa—lần này dùng ổ khóa mật mã, “Chỉ có A Lê và tôi biết mật khẩu. Sau này không ai có thể đạp tung cửa được nữa.”
Khóe miệng Triệu Mạn giật giật.
Cô ta chần chừ vài giây, rồi từ trong túi rút ra một món đồ nhỏ—một thiết bị hình vuông, dẹt, màu xám bạc.
“Đây là máy gọi khẩn cấp.” Cô ta đặt thiết bị lên bậc thềm trước cửa—không đưa tận tay cho tôi, cũng không đến gần—chỉ đặt ở đó, “Nhấn một cái, trạm quản lý sẽ nhận được tín hiệu. Sau này—nếu có chuyện gì—”
Cô ta chưa nói hết câu. Hắng giọng, quay người bước đi.
Đi được hai bước lại dừng lại, quay lưng về phía chúng tôi: “Còn nữa—báo cáo của giáo sư Lã tôi đã gửi cho tổng bộ rồi. Đính kèm theo ý kiến của tôi. Nội dung là đề xuất nâng cấp mô hình quản lý của khu bảo tồn từ ‘Tiêu chuẩn’ lên ‘Khu bảo tồn lõi sinh thái đặc biệt’, ngân sách hàng năm tăng thêm bốn mươi phần trăm.”
Tiểu Châu đứng bên cạnh há hốc miệng.
Bóng lưng Triệu Mạn căng thẳng, thẳng tắp: “Đừng nghĩ nhiều. Thuần túy là do có số liệu chứng minh thôi.”
Sau đó cô ta đi thẳng. Gót giày nện xuống tuyết, từng bước từng bước, không ngoái đầu lại.
Tôi ngồi xổm xuống, nhặt khối vuông nhỏ trên bậc thềm lên.
Lớp vỏ kim loại màu xám bạc, chỉ có một nút bấm màu đỏ. Rất nhẹ.
Tôi cầm nó trong tay ngắm nghía một lúc.
Rồi đặt nó vào trong chiếc hộp gỗ trên bậu cửa sổ nhà gỗ mới—chiếc hộp đó là do chú Nghiêm làm cho tôi, dùng để đựng “bảo bối” của tôi. Trong đó có một hòn đá màu trắng rất đẹp, một túm lông đuôi màu xám do Sói Xám để lại vào mùa thay lông, và một bức ảnh đã rất cũ—bức ảnh đầu tiên chú Nghiêm chụp cho tôi cách đây năm năm, tôi đứng trước căn nhà gỗ cũ, biểu cảm cứng ngắc như một khúc gỗ, nhưng rừng bạch dương phía sau làm nền lại rất đẹp.
Bây giờ, có thêm một chiếc máy gọi khẩn cấp.
Đêm hôm đó, lần đầu tiên tôi ngủ lại trong căn nhà gỗ mới.
Tấm đệm mới dày hơn đệm cũ. Rèm cửa mới chắn sáng tốt hơn rèm cũ. Chú Nghiêm còn lắp thêm một chiếc đèn ngủ nhỏ ở đầu giường—độ sáng rất rất thấp, chỉ là một chút ánh sáng màu vàng ấm áp, giống như một ngôi sao nhỏ màu cam.
Bên ngoài cửa sổ, ánh trăng rải xuống nền tuyết, cả thế giới yên tĩnh như một bức tranh.
Từ xa xa vẳng lại tiếng sói hú.
Kéo dài, bình ổn, không mang chút âu lo.
Là Sói Xám.
Nó đang chúc ngủ ngon.
Tôi rúc vào trong chăn, vùi mặt vào gối—chiếc gối mới ngửi có mùi hơi quá mới, không có cái mùi của việc đã sống lâu ngày, lẫn lộn giữa mùi lá thông và khói bếp như ở nhà gỗ cũ.
Nhưng không sao.
Ở vài ngày là sẽ có thôi.
Tôi nhắm mắt lại.