Chương 2 - Hy Vọng Từ Khe Núi
Dì đã đi bộ mấy chục dặm trên tuyết để mang cho tôi chút sủi cảo tự gói, đến trấn rồi mới bắt xe buýt, lắc lư hơn ba tiếng mới tới thành phố. Sủi cảo được đựng trong thùng giữ nhiệt, vẫn còn nóng, nhưng tay dì cả thì đã lạnh đến đỏ bừng, sưng phồng lên như cái bánh bao. Tôi vừa ăn sủi cảo, nước mắt vừa rơi vào bát, mặn chát đến phát đắng.
Dì cả nhìn tôi, cười nói: “Khóc cái gì? Ăn ngon vào, ăn xong thì ôn tập cho tốt, đợi cháu đỗ vào Thanh Hoa, dì cả sẽ bày tiệc, mời cả làng đến ăn.”
Khi ấy, Thanh Hoa đối với tôi mà nói, vẫn là một giấc mơ xa vời không với tới. Nhưng lời của dì cả, như một vệt sáng, chiếu vào quãng thanh xuân u tối của tôi, khiến tôi có thêm dũng khí để bước tiếp.
2. Tai họa như trời sập và tấm lưng của dì cả
Ngày thi đại học kết thúc, tôi bước ra khỏi phòng thi, thấy dì cả và mẹ tôi đều đứng ở cổng trường chờ tôi. Dì cả cầm trên tay một chai nước ngọt ướp lạnh, đưa vào tay tôi rồi nói: “Đừng căng thẳng, thi thế nào cũng không sao, cố hết sức là được.”
Nhưng tôi biết, dì còn căng thẳng hơn cả tôi. Trong nửa tháng chờ điểm, ngày nào dì cả cũng chạy đến nhà tôi mấy lượt, đứng ngồi không yên, đến ngủ cũng không ngon giấc.
Ngày công bố điểm, sau khi tra xong kết quả, tay tôi run bần bật. Điểm của tôi cao hơn điểm chuẩn tuyển sinh của Thanh Hoa những ba mươi điểm.
Mẹ tôi lập tức bật khóc, quỳ xuống đất, hướng về di ảnh của ba tôi mà dập đầu mấy cái. Dì cả cầm bảng điểm của tôi, lật qua lật lại nhìn, nhìn một lần thì khóc một lần, miệng không ngừng lẩm bẩm: “Đỗ rồi, Lai Hỷ nhà chúng ta đỗ Thanh Hoa rồi, tốt quá, tốt quá…”
Tin tức nhanh chóng lan khắp cả thôn, cả thôn đều náo loạn. Tôi là đứa trẻ đầu tiên trong cái khe núi nghèo nàn này đỗ Thanh Hoa. Bí thư thôn dẫn theo cán bộ thôn đến nhà tôi chúc mừng, hàng xóm cũng đều tới, trong sân chen chúc kín mít, ai cũng nói mộ tổ nhà tôi bốc khói xanh nói dì cả có mắt nhìn người, nuôi dạy ra được một đứa cháu ngoại có tiền đồ như vậy.
Nhưng sau sự náo nhiệt ấy, vấn đề thực tế lại bày ra trước mắt.
Học phí của Thanh Hoa, cộng thêm phí ký túc xá, tiền sách vở, riêng năm đầu đã gần một vạn tệ, còn cả sinh hoạt phí của tôi khi lên Bắc Kinh đi học, lặt vặt cộng lại, ít nhất cũng phải hai vạn tệ.
Hai vạn tệ, ở cái làng nghèo của chúng tôi vào năm 2010, quả thực là một con số trên trời.
Sau khi ba tôi qua đời, trong nhà vốn chẳng có mấy đồng tích góp, mấy năm nay mẹ tôi uống thuốc, tôi đi học, sớm đã đào rỗng đáy nhà, còn nợ họ hàng mấy nghìn tệ bên ngoài. Mẹ tôi lục tung hết số tiền trong nhà ra, ngay cả tiền lẻ cũng tính vào, tổng cộng vẫn chưa đến ba nghìn tệ.
Mẹ tôi lại gấp đến khóc, ngày nào cũng ra ngoài tìm họ hàng vay tiền, nhưng nhà nào trong thôn cũng sống chật vật, chẳng ai lấy ra nổi nhiều tiền như vậy. Có họ hàng còn nói mát: “Một đứa trẻ nhà quê, học nhiều thế để làm gì? Thà sớm ra ngoài đi làm kiếm tiền còn hơn, tốt nghiệp Thanh Hoa thì đã sao? Chẳng phải vẫn đi làm thuê cho người ta thôi à?”
Mẹ tôi chạy vạy suốt mấy ngày trời mà cũng chỉ vay được hơn một ngàn tệ. Tối hôm đó, bà ngồi cạnh tôi, xoa đầu tôi rồi nức nở: “Lai Hỉ à, hay là… mình không học nữa con nhé? Mẹ vô dụng, không lo nổi tiền, mẹ có lỗi với con, có lỗi với bố con…”
Nhìn mái tóc điểm bạc và đôi bàn tay nứt nẻ của mẹ, tim tôi đau thắt lại như có dao đâm. Tôi cắn răng bảo: “Mẹ, không sao đâu, không học nữa thì thôi ạ. Mai con lên huyện tìm việc làm, kiếm tiền lo cho gia đình.”
Đúng lúc ấy, dì cả đẩy cửa bước vào.
Hóa ra nãy giờ dì đứng ngoài cửa và đã nghe hết cuộc trò chuyện của hai mẹ con. Khuôn mặt dì căng lại, bước tới trước mặt mẹ tôi, nói: “Tú Mai, em đang nói cái thứ lời lẽ ngớ ngẩn gì vậy? Lai Hỉ đậu Thanh Hoa là chuyện vui tày đình, sao có thể nói không đi là không đi được?