Chương 4 - Hành Trình Của Tiểu Nương Tử
Không hiểu vì sao, tiểu nha đầu Noãn Nhi dường như trời sinh đã biết mời khách.
Nàng ngồi xổm trước quầy, thấy có người đi tới liền ngẩng khuôn mặt nhỏ lên gọi:
“Khách quan, ăn hoành thánh không? Ngon lắm đó!”
Giọng nàng non nớt, mềm dẻo như bánh nếp vừa ra khỏi nồi.
Không ít người vốn không định ăn, bị nàng gọi như vậy lại ngại bước đi, đành ngồi xuống gọi một bát.
Một đại hán mặt đầy thịt đi ngang qua trông hung thần ác sát, người khác đều không dám lại gần. Noãn Nhi lại chẳng sợ, chạy tới kéo vạt áo hắn:
“Đại thúc, thúc có đói không? Ăn một bát hoành thánh đi.”
Đại hán cúi đầu thấy nàng, sửng sốt một thoáng rồi bật cười ha hả.
Hắn ăn một mạch ba bát hoành thánh. Trước khi đi còn đưa thêm mười đồng:
“Này, mua kẹo cho tiểu nha đầu.”
Khi dọn quầy, trời đã tối hẳn.
Ta cọ sạch nồi sắt, lau sạch thớt, thu dọn bát đũa, lần lượt xếp vào góc tường.
Lão Chu cũng dọn quán trà, đi tới đưa ta một gói đồ bọc giấy dầu, ngửi thấy mùi thịt thơm.
“Hôm nay ta kho hơi nhiều lòng heo, các ngươi cầm về ăn đi.”
Nói xong ông liền quay đi, không cho ta cơ hội từ chối.
Ta mở giấy dầu, bên trong là mấy miếng gan heo và tim heo kho bóng mỡ.
Ta bưng vào nhà. Chân phu nhân và đại tiểu thư đã ngồi trên chiếu cỏ, Noãn Nhi đang nép trong lòng Chân phu nhân.
Ta đặt món kho vào giữa, nói:
“Liễu di, đây là lão Chu cho chúng ta, mau nếm thử đi.”
Chân phu nhân nhìn một cái nhưng không động đũa. Đại tiểu thư cũng không động.
Chỉ có Noãn Nhi lập tức đưa tay định chộp. Ta ngăn nàng lại, lấy một miếng gan heo, bẻ nhỏ rồi đút vào miệng nàng.
Nàng nhai mấy cái, hai mắt lập tức sáng lên, nói không rõ chữ:
“Ngon quá!”
Ta cười, lại bẻ một miếng đưa cho Chân phu nhân:
“Liễu di, người ăn đi.”
Chân phu nhân nhận lấy, cắn một miếng, chậm rãi nhai.
Nhai được một lúc, nước mắt bà bỗng rơi xuống.
Bà vội dùng mu bàn tay lau đi, nhưng càng lau nước mắt càng nhiều, thế nào cũng không hết.
Bà quay mặt sang một bên, bờ vai run lên, cố nén tiếng khóc.
Đại tiểu thư đặt món ăn trong tay xuống, bò tới ôm lấy bà.
Ta cũng ôm Noãn Nhi vào lòng.
Rất lâu sau, Chân phu nhân mới ngừng khóc, nhìn ta hỏi:
“Nha đầu, ta vẫn chưa biết thân thế của ngươi.”
“Ta là dân chạy nạn.”
Ta nói:
“Mẫu thân mất trên đường, phụ thân không biết đã đi đâu. Đến Biện Kinh, ta được nha bà thu nhận, sau đó bị bán vào Chân gia làm nha hoàn sai vặt.”
Chân phu nhân nghe xong, lại im lặng rất lâu.
Ta cúi đầu hôn lên má Noãn Nhi:
“Ngày mai A tỷ gói hoành thánh thịt cho muội ăn.”
Mắt Noãn Nhi sáng lên:
“Có thịt rồi sao?”
“Có.”
Ta đáp:
“Ngày mai sẽ mua.”
Ngày mai, ta phải nghĩ cách kiếm thêm tiền.
Ở mãi trong căn nhà nhỏ này không phải kế lâu dài.
Mùa đông sắp tới, phải nhanh chóng dành dụm đủ bạc thuê nhà. Dù chỉ là một căn phòng nhỏ, miễn che được gió mưa là đủ.
Ta lật đi lật lại những chuyện ấy trong đầu, nghĩ đến đau đầu, mãi không ngủ được.
Ban đêm, đại tiểu thư cũng trằn trọc không yên.
“Không ngủ được sao?”
Ta khẽ hỏi.
Nàng khe khẽ “ừ” một tiếng. Một lúc sau, nàng chậm rãi nhích tới, tựa đầu lên vai ta.
“Cảm ơn ngươi.”
“Cảm ơn chuyện gì?”
“Cảm ơn ngươi đã mua mẹ con ta về.”
Nàng nói:
“Tuy… tuy nơi này rất khổ, nhưng vẫn tốt hơn chỗ kia. Nơi đó… nơi đó đáng sợ lắm.”
Ta vòng tay ôm vai nàng, khẽ vỗ về như ngày trước vẫn dỗ Noãn Nhi.
“Sẽ tốt lên thôi. Mọi chuyện rồi sẽ tốt lên.”
6
Đêm đã khuya. Noãn Nhi và Chân phu nhân đều đã ngủ. Đại tiểu thư tựa trên vai ta, cũng mơ mơ màng màng khép mắt.
Ta lại không ngủ.
Cảm ơn.
Hai chữ ấy, đáng lẽ phải do ta nói mới đúng.
Ta nhắm mắt lại, những chuyện cũ lập tức như nước sông Biện, chậm rãi chảy về trong ký ức.
Sau khi lưu lạc tới Biện Kinh, ta sống trong sân nhà của nha bà.
Sân không lớn, phía đông và phía tây có hai dãy phòng, ở giữa là một khoảng giếng trời. Trong sân trồng một cây táo thân cong vẹo.
Trong viện có hơn mười cô nương. Lớn thì mười bốn, mười lăm tuổi, nhỏ chỉ tám, chín tuổi.
Mỗi ngày chúng ta đều phải học quy củ, học làm việc nhà, học cách hầu hạ người khác.
Nha bà nói, chờ học thành thạo sẽ đưa chúng ta đến những gia đình tử tế làm nha hoàn. Ai may mắn, còn có thể vào phủ quan lớn.
Ta sống trong tiểu viện ấy hơn nửa năm.
Hơn nửa năm ấy, ta nhìn các cô nương bên cạnh lần lượt bị người ta dẫn đi.
Có người đến phường vải làm học việc, có người vào tửu lâu làm công. Mấy cô nương có dung mạo nổi bật thì bị người ta đưa đi, chẳng biết đã tới đâu.
Nha bà nói họ có số tốt, được vào nhà tử tế.
Về sau ta mới nghe nói, vài cô nương bị dẫn đi thật ra chẳng tới “nhà tử tế” nào cả. Họ bị đưa lên những thuyền hoa và trà lâu ở Đông Thành, phải làm thứ nghề không thể để người khác biết.
Có một người không chịu nổi, gieo mình xuống sông Biện. Ba ngày sau thi thể mới nổi lên, đã ngâm đến không còn nhận ra khuôn mặt.
Nghe chuyện ấy, ta mất ngủ suốt một đêm.
So ra, mệnh ta đã xem như tốt.
Ma ma quản sự của Chân gia đi một vòng trong viện, lần lượt nhìn qua mấy cô nương, cuối cùng chỉ vào ta và hai nha đầu khác.
“Ba đứa này, theo ta.”
Nha bà cười đến không khép được miệng, liên tục đáp “được, được, được”.
Chân gia đối đãi với hạ nhân hiền hậu, quả thật nổi tiếng khắp nơi.
Nghe nói Chân đại nhân là người đọc sách, tính tình ôn hòa, chưa bao giờ tùy tiện đánh mắng hạ nhân.
Chân phu nhân cũng là người tốt tính.
Bà tin Phật, cứ mồng Một và ngày Rằm mỗi tháng đều đến chùa dâng hương. Khi trở về, bà luôn mang theo ít bánh chay chia cho người hầu trong phủ.
Đó là quãng thời gian yên ổn nhất trong đời ta.
Chỉ cần chăm chỉ làm việc, ta sẽ có cơm ăn, có nơi ở, không phải chịu đói, không phải chịu rét, cũng không bị bán tới những nơi bẩn thỉu kia.
Vì thế, ta luôn siêng năng hơn người khác.
Ta quét sân sạch hơn người khác, lau cột hành lang sáng hơn người khác, khuân vác cũng nhiều hơn người khác.
Đại trù trong bếp dạy ta trộn nhân, ta học chăm chú hơn bất kỳ ai.
Ta nghĩ, chỉ cần làm nhiều thêm một chút, học nhiều thêm một chút, ta sẽ được ở Chân gia thêm một ngày, được yên ổn thêm một ngày.
Đại trù họ Tôn, là một vị đại thúc béo tròn, nấu ăn rất ngon, đặc biệt giỏi trộn nhân.
Thấy ta thật lòng muốn học, thỉnh thoảng ông lại chỉ bảo đôi câu.
Có lần ông hỏi:
“Nha đầu, ngươi học thứ này làm gì? Một nha hoàn làm việc nặng đâu cần biết trộn nhân.”
Ta đáp:
“Lỡ một ngày nào đó dùng đến thì sao?”
Tôn sư phụ cười ha hả, không nói thêm gì nữa.
Sáng hôm sau, trời còn chưa sáng, ta đã nghe phía bếp có tiếng động.
Ta mở mắt, nhờ ánh sáng mờ nhạt ban mai, nhìn thấy đại tiểu thư đang ngồi xổm trước bếp nhóm lửa.
Củi vương đầy dưới đất. Nàng cầm mồi lửa, cúi sát một cành củi nhỏ mà thổi hết lần này đến lần khác, thổi đến mặt đỏ bừng, bị khói hun ho sặc sụa, nhưng lửa vẫn không bén.
Ta vội bước tới, nhận lấy mồi lửa, chỉ vài động tác đã nhóm được bếp.
“Sao không gọi ta?” Ta hỏi.
Nàng cúi đầu, trên mặt còn dính tro:
“Ta muốn để ngươi ngủ thêm một lát.”