Chương 2 - Chuyện Thật Đằng Sau Những Lời Kể
07
Sau đó bà lại đến công xã. Người bên công xã không mắng bà nhưng cũng chẳng giúp được gì. Một cán bộ đeo kính nghe xong chỉ khẽ thở dài.
– Chuyện này khó xử lắm. Cô nói hắn cưỡng ép cô, còn hắn lại nói cô tự nguyện. Hai bên ai cũng có lý lẽ riêng, lại chẳng có nhân chứng. Bảo chúng tôi xử lý thế nào?
Chu Quế Lan đáp:
– Có nhân chứng. Hôm đó lúc chạng vạng có người đi ngang qua chắc chắn có người nhìn thấy.
Người cán bộ nói:
– Vậy cô đi tìm nhân chứng đến đây.
Chu Quế Lan trở về làng, gõ cửa từng nhà để hỏi. Hỏi hết nhà này đến nhà khác, ai cũng nói không nhìn thấy gì. Có một bà lão định mở miệng nói gì đó nhưng vừa nhìn thấy chồng mình trừng mắt thì lập tức ngậm miệng lại. Chu Quế Lan hiểu rồi. Không phải không ai nhìn thấy, mà là không ai dám nói. Trần Đại Bưu đã buông lời đe dọa, ai dám đứng ra làm chứng cho bà, hắn sẽ châm lửa đốt nhà người đó. Không ai dám đắc tội với hắn. Chủ nhiệm Mã là anh họ hắn, đồn công an cũng có người của hắn. Ở cái làng này, hắn chẳng khác nào một ông vua đất. Đụng vào hắn thì đừng mong yên ổn mà sống.
Chu Quế Lan đứng ở đầu làng, lặng lẽ nhìn những cánh cửa đóng chặt trước mặt rất lâu rồi lại tìm đến đồn công an. Thái độ của công an còn tốt hơn Chủ nhiệm Mã. Họ rót cho bà một cốc nước, lập biên bản rồi bảo bà về chờ tin. Bà chờ bảy ngày nhưng không có bất kỳ tin tức nào. Đến ngày thứ tám, bà quay lại hỏi thì người trực ban đã đổi sang người khác. Anh ta nói bản ghi lời khai trước đó bị thất lạc, bảo bà kể lại từ đầu.
Chu Quế Lan lại kể một lần nữa. Kể được nửa chừng, bà bỗng dừng lại, lặng lẽ nhìn thẳng vào mắt người cảnh sát trẻ ngồi đối diện. Ánh mắt ấy đang né tránh bà.
Ngay khoảnh khắc ấy…
Bà hiểu rồi.
08
Trần Đại Bưu không hề có ý định buông tha bà. Có lẽ vì bà dám đi tố cáo hắn nên đã chọc giận hắn, cũng có lẽ sau lần trước nếm được “mùi vị”, hắn lại muốn thêm một lần nữa. Dù là lý do nào thì hắn cũng bắt đầu càng lúc càng quá đáng.
Mỗi lần Chu Quế Lan ra giếng gánh nước, hắn đều bất ngờ xuất hiện phía sau lưng, đứng rất sát, sát đến mức bà có thể ngửi thấy mùi rượu và mùi mồ hôi nồng nặc trên người hắn. Hắn không nói gì, chỉ đứng đó cười híp mắt nhìn bà cúi người múc nước. Đợi bà gánh nước về, hắn liền thong thả đi theo phía sau, bám tận đến cửa nhà rồi mới quay người bỏ đi.
Có khi nhân lúc Chu Quế Lan không có ở nhà, hắn còn trèo tường vào sân. Không trộm cắp gì cả, chỉ cố ý giật hết quần áo đang phơi xuống đất hoặc đập vỡ một hai cái bát trên bếp. Hắn biết Chu Quế Lan không có tiền mua bát mới, vỡ một cái là mất luôn một cái.
Có một lần, hắn còn khắc một hàng chữ lên cánh cửa nhà bà. Lúc Chu Quế Lan trở về nhìn thấy hàng chữ ấy, sắc mặt lập tức trắng bệch. Bà không biết chữ nhưng biết đó tuyệt đối không phải lời hay. Sau này chính bà Khương mới nói cho bà biết trên đó viết gì. Ông nội không chịu kể lại hàng chữ ấy, chỉ bảo ông không nói thành lời được.
Chiều hôm đó, Chu Quế Lan dắt Tiểu Nam ra cửa hàng tạp hóa đầu làng mua muối Trần Đại Bưu đứng bên vệ đường, quanh hắn có bảy tám tên đàn ông lêu lổng trong làng, ngày thường vẫn theo sau hắn như cái bóng. Hắn gân cổ hét lớn, lớn đến mức nửa con phố đều nghe thấy:
– Chu Quế Lan! Đừng có đi khắp nơi tố cáo tao nữa! Tao ngủ với mày là coi trọng mày! Chồng mày chết ba năm rồi, mày không thấy khó chịu à? Tao giúp mày giải khuây, vậy mà mày còn lấy oán báo ơn!
Đám người xung quanh lập tức cười ầm lên.
– Đúng thế! Anh Bưu tốt bụng giúp nó, vậy mà nó còn cắn ngược lại!
– Con đàn bà này chỉ muốn kiếm cớ tống tiền thôi.
– Góa phụ mà không kiếm lấy đàn ông thì sống kiểu gì?
Tiếng cười mỗi lúc một lớn. Ông nội nói hôm đó ông cũng đứng trong đám người ấy và điều khiến ông hối hận nhất cả đời chính là đã không bước ra. Ông chỉ đứng đó cúi đầu, không nói một lời. Những người khác cũng vậy. Không phải ai cũng cười theo, nhưng cũng chẳng có lấy một người chịu đứng ra. Có người cúi đầu nhìn mũi giày, có người quay mặt đi chỗ khác, có người giả vờ như không nghe thấy. Không một ai nói giúp Chu Quế Lan dù chỉ một câu.
Chu Quế Lan đứng giữa đám đông, toàn thân run rẩy. Bà cúi đầu nhìn Tiểu Nam. Con bé ngẩng khuôn mặt nhỏ lên nhìn mẹ, hoàn toàn không hiểu chuyện gì đang xảy ra nhưng nước mắt đã lặng lẽ chảy xuống. Một đứa trẻ sáu tuổi dường như hiểu tất cả mà cũng chẳng hiểu gì. Nó chỉ biết mẹ bị người ta cười nhạo, mẹ đang run và môi mẹ đã cắn đến bật máu.
Chu Quế Lan từ từ ngồi xổm xuống, ôm con gái vào lòng, chen qua đám đông rồi từng bước một đi về nhà. Ông nội nói ông nhìn theo bóng lưng bà. Sống lưng ấy vẫn thẳng như trước, nhưng trên đôi vai ấy, ông đã nhìn thấy một thứ khác.
Đó là…
Sự run rẩy.
09
Đêm hôm đó, sau khi dỗ Tiểu Nam ngủ say, Chu Quế Lan ngồi một mình trước bếp lò rất lâu.
Ừm, đúng kiểu này mới là phong cách mình nghĩ bạn đang cần. Mình sẽ giữ nguyên format này cho toàn bộ truyện đoạn văn liền mạch, chỉ xuống dòng ở thoại và khi chuyển chương/cảnh lớn. Nhìn sẽ giống sách xuất bản hơn rất nhiều.
Đêm hôm đó, sau khi dỗ Tiểu Nam ngủ say, Chu Quế Lan ngồi một mình trước bếp lò rất lâu. Lửa trong bếp đã tắt từ lâu, chiếc nồi cũng nguội ngắt, còn bà thì ngồi bất động giữa màn đêm.
Bà nghĩ đến cái chết.
Chết rồi sẽ được giải thoát. Không còn bị người khác bắt nạt, không còn phải nhìn sắc mặt thiên hạ, cũng không còn phải nơm nớp lo sợ sống qua từng ngày. Chết rồi… bà sẽ được gặp chồng mình. Ông ấy hẳn đang đợi bà ở dưới đó.
Nhưng…
Bà không thể chết.
Tiểu Nam phải làm sao?
Con bé mới sáu tuổi. Đã mất cha, nếu lại mất mẹ thì ai sẽ nuôi nó? Trần Đại Bưu có bắt nạt nó không? Dân làng sẽ đối xử với nó thế nào?
Nghĩ đến đó, Chu Quế Lan buông hàm răng đang cắn chặt đầu lưỡi.
Bà không thể chết.
Nếu bà chết…
Tiểu Nam sẽ trở thành Chu Quế Lan thứ hai.
Bà ngồi trước bếp lò suốt cả đêm. Đến khi trời sáng, hốc mắt đã hõm sâu, đôi môi khô nứt, nhưng ánh mắt lại sáng hơn bao giờ hết.
Bà phải tìm một con đường khác.
10
Hôm ấy, bà Khương trong làng tìm đến.
Bà Khương đã ngoài tám mươi tuổi, tai hơi lãng nhưng lòng dạ sáng như gương. Trong cả ngôi làng này, bà là người duy nhất dám đứng về phía Chu Quế Lan. Trước đây Chu Quế Lan từng vài lần sang nhà bà vay gạo, bà đều cho, chưa từng đòi trả.
Bà Khương ngồi xuống bậc cửa, nắm lấy tay Chu Quế Lan. Những ngón tay gầy guộc siết lấy tay bà từng chút một.
– Con à, đường dương gian không đi được… thì đi đường âm gian.
Chu Quế Lan không hiểu.
Bà Khương hạ thấp giọng, ghé sát tai bà, chậm rãi nói bốn chữ.
– Đi cáo trạng âm phủ.
Chu Quế Lan sững người.
Chuyện cáo trạng âm phủ, hồi nhỏ bà từng nghe các cụ già nhắc đến. Nhưng đó đều là chuyện của thời xưa. Bây giờ đã là xã hội mới, còn ai tin những thứ ấy nữa?
Nhìn thấy vẻ chần chừ của bà, bà Khương khẽ nói:
– Con không tin sao? Để ta kể cho con nghe. Đời bà cố của ta, trong làng từng có một người bị vu oan ăn trộm. Không ai chịu tin ông ấy, ông ấy bèn lên miếu Thành Hoàng cáo trạng âm phủ. Ba ngày sau, tên trộm thật đang đi giữa đường thì bị sét đánh chết. Con không tin thì thử nghĩ xem… trên đời này thật sự còn công đạo hay không?
Chu Quế Lan im lặng rất lâu.
Cuối cùng bà khẽ đáp:
– Con đi.
11
Tờ trạng được viết bởi tiên sinh Tôn ở thị trấn.
Tiên sinh Tôn là người có học, biết chữ nghĩa, mở một tiệm nhỏ chuyên viết thư và câu đối thuê.
Chu Quế Lan đi bộ hơn mười dặm mới tìm được ông. Bà kể lại toàn bộ mọi chuyện, từ lần đầu tiên bị Trần Đại Bưu ức hiếp, đến việc lên công xã tố cáo nhưng không ai chịu giải quyết, rồi chuyện hắn ngang nhiên làm nhục bà trước mặt cả làng.
Bà kể rất chậm.
Giọng đều đều.
Như đang kể chuyện của một người xa lạ.
Nhưng tiên sinh Tôn nhìn thấy…
Đôi bàn tay bà vẫn đang run.
Nghe xong, ông im lặng rất lâu. Sau đó mới trải một tờ giấy vàng, mài mực rồi cầm bút viết từng hàng dọc từ phải sang trái.
Ông nội kể rằng, sau này tiên sinh Tôn từng đọc lại nội dung tờ trạng cho vài người nghe. Ông không còn nhớ hết, chỉ nhớ đoạn mở đầu.
“Người đứng đơn là Chu Quế Lan, sinh ngày mười lăm tháng Bảy năm Dân Quốc thứ hai mươi hai, hiện cư ngụ tại thôn Dương Liễu, huyện Thanh Khê.”
“Nay kính cẩn dâng đơn lên trước án của Thành Hoàng tôn thần hiển linh cai quản huyện này.”
“Hôm nay mang nỗi oan khuất, xin lấy huyết lệ mà kêu oan.”
Tiên sinh Tôn viết rất chậm, từng nét chữ đều ngay ngắn, cẩn trọng. Đến đoạn viết về tội ác của Trần Đại Bưu, bàn tay ông lại khẽ run lên, nhưng vẫn không dừng bút. Thời gian, địa điểm, toàn bộ diễn biến đều được ông ghi lại đầy đủ. Viết xong, ông còn thêm vào cuối đơn một câu.
“Người khởi kiện đã gõ cửa khắp nơi nhưng không ai minh oan, đường cùng không lối thoát, chỉ biết quỳ xin Thành Hoàng tôn thần soi xét như gương sáng, thấu tỏ mọi điều. Nếu lời khai của người khởi kiện có nửa lời gian dối, xin cam chịu trời tru đất diệt.”