Chương 2 - Bức Tranh Đời Mẹ Tôi
Khi làm hộ khẩu, nhân viên nhìn gia đình ba người này với ánh mắt kỳ quái: một người phụ nữ xinh đẹp nhưng yếu ớt, một người đàn ông xấu xí tàn tật, và một đứa trẻ không biết là con ai.
Lão Trần mặc kệ những ánh nhìn ấy, ông nhét cuốn sổ hộ khẩu vào túi trong sát ngực nhất, vỗ vỗ, rồi cười.
Nụ cười kéo theo những vết sẹo, trông còn khó coi hơn cả khóc, nhưng mẹ nói, đó là nụ cười vững chãi nhất bà từng thấy.
3
Tôi lớn lên giữa những đống bia mộ.
Con nít nhà người ta chơi xếp hình, tôi chơi đá.
Con nít nhà người ta nghe truyện cổ tích, tôi nghe lão Trần kể nhà ai có bài minh khắc trên mộ viết hay.
Người Hắc Thủy trấn đều nói tôi là đứa trẻ “uống khí quỷ” mà lớn, xui xẻo.
Hồi nhỏ tôi chưa biết chuyện, hỏi mẹ: “Vì sao bố trông như quái vật, còn con lại giống mẹ?”
Mẹ tôi sầm mặt, phạt tôi quỳ trên bàn giặt, không cho ăn cơm.
“Nếu không có cái ‘quái vật’ đó, con sớm đã thối rữa trong bùn rồi!”
Lão Trần thương tôi, lén lúc mẹ không để ý, nhét cho tôi một nắm con vật nhỏ ông khắc từ đá vụn.
Có thỏ, có chó con, còn có một con phượng hoàng dang cánh như sắp bay.
Tuy tay ông thô ráp, nhưng đồ khắc ra tròn trịa nhẵn bóng, chạm vào không hề rát tay.
Ông không biết nói lời dỗ dành, chỉ biết làm bằng hành động.
Tôi muốn ăn cá, nửa đêm ông ra sông băng đục lỗ;
Tôi muốn mặc váy, ông lấy tiền mua thuốc lá lên trấn mua cho tôi chiếc váy đỏ đẹp nhất.
Nhưng tôi vẫn khao khát hơn cả cái “cha ruột” trong truyền thuyết ấy.
Mẹ tôi đã đốt hết đồ của gã họa sĩ kia, chỉ giữ lại bức “Sơn Quỷ”, giấu dưới đáy rương.
Tôi lén xem qua trên tranh có đề: “Tặng người ta yêu – Uyển.”
Chữ “yêu” ấy như một cái gai, ghim vào tim tôi, cũng ghim vào tim lão Trần.
Tôi biết lão Trần tự ti.
Mỗi lần đến trường họp phụ huynh cho tôi, ông luôn đội mũ đeo khẩu trang, co ro ở góc, sợ làm tôi mất mặt.
Có lần tôi thi được hạng nhất lớp, thầy giáo bảo ông lên bục nói đôi câu.
Ông lúng túng đến tay chân thừa thãi, chỉ biết cúi người liên tục, miệng phát ra những tiếng “a… ba… a… ba…”
Cả lớp cười ầm, có đứa gào lên: “Bố của Trần An là quái vật câm!”
Tôi xấu hổ đến muốn chết, đẩy lão Trần ra rồi chạy vụt khỏi đó.
Tối hôm ấy, lão Trần không ăn cơm, một mình ngồi ngoài sân mài dao.
Tôi định đi xin lỗi, lại nghe mẹ tôi trong nhà vừa khóc vừa mắng ông:
“Hôm nay ông đến trường làm gì? Ông không biết An An đang tuổi sĩ diện à?”
Lão Trần cúi đầu như đứa trẻ làm sai, đưa tay ra hiệu:
“Tôi muốn nhìn con gái nhận giải.”
Tôi đứng ngoài cửa, nước mắt như mưa.
Hôm sau, trong cặp tôi xuất hiện một ống bút đá chạm khắc tinh xảo, trên đó khắc một hàng chữ nhỏ xiêu vẹo:
“An An, bay cao thêm chút.”
Đó là thứ ông tra từ điển cả đêm, luyện viết hàng trăm lần rồi mới dám khắc.
Năm tôi mười hai tuổi, bà ngoại hấp hối.
Bà già đã bán mẹ tôi ấy, trước khi chết muốn gặp mẹ một lần.
Mẹ tôi không muốn đi.
Ngần ấy năm, nhà ngoại ngoài việc đến xin tiền, chưa từng coi chúng tôi là người thân.
Cậu tôi càng là cái hố không đáy: thua bạc là lên Bắc Sơn gây sự, mắng lão Trần tuyệt tự, mắng tôi là đồ hoang.
Mỗi lần cậu đến làm loạn, lão Trần đều lặng lẽ đứng chắn phía trước, mặc cậu chửi bới tục tằn, cuối cùng rút ra vài trăm tệ đuổi đi.
Lần này, bà ngoại thật sự không qua khỏi.
Lão Trần khuyên mẹ tôi: “Đi đi. Người chết rồi thì nợ tiêu. Bà ấy là mẹ.”
Ông vẫn luôn như thế, lấy đức trả oán, ngốc đến mức khiến người ta xót.
Đến bệnh viện, phòng bệnh chật kín họ hàng kéo đến xem.
Bà ngoại gầy như que củi khô, thấy mẹ tôi, trong mắt lóe lên một tia sáng.
“Uyển nhi… mẹ hối hận rồi…”
Mẹ tôi lạnh mặt, không nói.
Bà ngoại run rẩy đưa tay chỉ xuống một cái bọc vải dưới gầm giường: “Đó là chút tiền quan tài mẹ dành dụm, để An An đi học…”
Cậu tôi mắt xanh lè, lao tới định giật.
“Mẹ! Mẹ hồ đồ rồi à? Cái này cho cái đồ hoang nhà họ Trần? Con là con trai mẹ!”
“Cút!” Bà ngoại như bừng tỉnh hồi quang, gầm lên một tiếng.
Ngay lúc ấy, bà không kịp thở thêm, tay rũ xuống.