Chương 23 - Thịt Rồng Và Những Nỗi Kinh Hoàng

🔥 Mời bạn theo dõi page Đậu Xanh Rau Má để đọc sớm nhất các truyện mới nhất!

Chúng đang đi hài, đeo vòng, thắt đai hỷ cho tôi.

Tôi vùng vẫy kịch liệt.

Dao rựa chém đứt một bàn tay, lại mọc thêm hai bàn tay nữa.

Khăn trùm đầu đỏ đã hạ thấp tới đỉnh đầu.

Một khi bị trùm kín, có lẽ tôi sẽ thực sự bị cuộc hôn nhân ma quỷ này định đoạt.

Ngay khoảnh khắc ấy, tận cùng rãnh hào bãi tha ma vẳng đến một tiếng thở dài.

Tiếng thở dài ấy rất khẽ.

Thế nhưng mọi xác chết đều khựng lại trong chốc lát.

Dưới gốc hòe mục nát, từ trong cỗ quan tài đen xì, chiếc áo bông cũ kỹ kia tự động bay ra.

Ánh bông rách nát tả tơi, nhưng mang theo mùi thuốc lào quen thuộc.

Nó ập vào người tôi, như có ai đó ôm chầm lấy tôi từ phía sau.

Tấm khăn trùm đầu đỏ buông xuống, bị chiếc áo bông cũ chặn lại.

Áo bông tức khắc tỏa khói trắng mù mịt.

Bên tai tôi vang vọng giọng nói nhòe nhoẹt của cha tôi.

“Đi.”

“Ra bến đò.”

Mắt tôi cay xè, nhưng không dám bật khóc.

Tôi nắm chặt chìa khóa đồng và dao rựa cũ, gồng mình ấn chặt ngọc vảy trong lòng bàn tay xuống đất.

Ánh sáng trong vắt chiếu rọi lớp bùn mộ.

Lũ bàn tay đang bám riết lấy tôi như bị phỏng rát, hét toáng lên rồi thụt lùi lại.

Tôi mượn cơ hội xoay người lăn sang mép hào bên kia, men theo sườn dốc bò lên trên.

Triệu Thanh Hà không đuổi theo.

Hắn đứng dưới rãnh hào bãi tha ma, trân trân nhìn chiếc áo bông cũ từ từ cháy thành tro dưới tấm khăn trùm đầu đỏ.

Khuôn mặt hắn bị ánh trăng ban ngày rọi sáng trắng bệch như tờ giấy vàng mã.

“Cô sẽ phải ra bến đò cũ thôi.”

“Con dao và chiếc chìa khóa mà nhà họ Hứa để lại, đều phải sử dụng ở đó.”

“Cô không đi, tôi sẽ đẩy người sống trên núi, từng người từng người một xuống cổng nước.”

Tôi khựng người lại.

Hắn nở nụ cười giơ tay ra.

Trong khu rừng phía trên bãi tha ma, vẳng đến tiếng khóc lóc của trẻ thơ.

Tôi ngẩng đầu nhìn, thấy vài người dân làng lẩn trốn trong núi bị người giấy áp giải ra ngoài.

Có người tôi biết mặt.

Cũng có người tôi không quen.

Mắt bọn họ đều bị bịt bằng vải đỏ, miệng bị nhét đầy rong rêu.

Đi đầu tiên là cô con gái nhỏ của ông chủ quán cơm trên thị trấn.

Cô bé mới tám chín tuổi, ngày trước tôi đi giao lâm sản cho quán, cô bé vẫn lén lút dúi cho tôi vài viên kẹo.

Bây giờ cô bé đang bị người giấy xách cổ áo sau gáy, hai chân lơ lửng trên không, khóc lóc toàn thân run rẩy.

Triệu Thanh Hà chậm rãi buông lời: “Bến đò cũ.”

“Trước lúc trời tối.”

“Cô không đến, những kẻ này sẽ xuống nước thay cô.”

Bàn tay nắm dao của tôi hằn rõ gân xanh.

Triệu Thanh Hà cực kỳ hài lòng với biểu cảm của tôi.

“Đừng hòng trốn thoát.”

“Mắt nước đang trong tay cô.”

“Cô chạy đến đâu, cổng nước sẽ mở ra đến đó.”

Hắn nói xong, lũ người giấy sau lưng đồng loạt cúi gập đầu.

Tiếng kèn xô-na lại một lần nữa réo rắt vang lên.

Triệu Thanh Hà xoay lưng tiến vào làn sương mù nghĩa địa.

Đám người bị tóm gọn cũng bị lôi kéo khuất dạng vào trong rừng.

Trong mương bãi tha ma chỉ còn lại la liệt của hồi môn và đống tro tàn thiêu rụi từ chiếc áo bông cũ.

Tôi đứng ngây ra đó, mắt nước trong lòng bàn tay vẫn đang lan tỏa từng vòng gợn sóng.

Viên ngọc vảy áp chặt vào da thịt, ấm áp như một trái tim không thuộc về tôi.

Tôi biết Triệu Thanh Hà nói đúng.

Bến đò cũ là cái bẫy giăng sẵn.

Nhưng gia phả nước ở đó.

Quan tài tổ tiên ở đó.

Những sinh mạng đang sống sờ sờ cũng ở đó.

Tôi cúi nhìn mớ tro tàn do chiếc áo bông cũ để lại.

Từ trong đống tro lộ ra một mẩu vải vụn chưa cháy hết.

Trên mẩu vải có hai chữ được viết bằng máu.

Cắt phổ.

Tôi nhét mẩu vải vào ngực áo, lê lết chiếc chân bị thương, hướng về phía Bến đò cũ ở hướng Đông Nam cất bước.

17

Đường ra bến đò cũ âm u hơn tôi tưởng tượng.

Rõ ràng trên đỉnh đầu đang treo ông mặt trời, nhưng trong rừng lúc nào cũng phảng phất ánh trăng.

Bóng trăng ban ngày lởn vởn trên đỉnh đầu tôi.

Tôi đi, nó cũng đi.

Tôi dừng, nó cũng dừng.

Mắt nước trong lòng bàn tay bị ánh trăng rọi sáng, thỉnh thoảng lại sủi tăm li ti.

Mỗi cái bong bóng vỡ ra, lại vọng lên tiếng gọi mẹ của một đứa trẻ sơ sinh.

Tôi xé gấu áo, quấn chặt lòng bàn tay lại.

Nhưng tấm vải vừa đắp lên, lập tức sũng nước.

Cuối cùng tôi đành dùng mảnh vỡ của chiếc bát sứ thô Bà mù để lại, ép chặt miệng vết thương bên ngoài, rồi dùng mớ tro đen và dải vải buộc chặt lại.

Cơn đau len lỏi vào tận tủy xương.

Nhưng tiếng nước róc rách rốt cuộc cũng nhỏ lại đôi chút.

Cuối con đường mòn xuất hiện một cánh đồng lau sậy.

Gió thổi lướt qua lau sậy đồng loạt rạp mình về một hướng.

Như thể đang dọn đường cho thứ gì đó.

Bên ngoài cánh đồng lau sậy, chính là bến đò cũ.

Hồi bé tôi từng nghe người già nhắc đến nơi này.

Kể rằng nhiều năm về trước, người làng muốn lên thị trấn họp chợ, đều phải qua đây đi đò qua sông.

Sau này thượng nguồn xây cầu cống, bến đò liền bị bỏ hoang.

Về sau nữa, nhà họ Triệu mở bãi khai thác cát đá trên thị trấn, nạo vét lòng sông sâu hơn, bến đò cũ hoàn toàn vắng bóng người lai vãng.

Bây giờ tôi đứng bên rìa lau sậy, đập vào mắt lại không phải là bến đò hoang tàn.

Trên mặt sông neo đậu một chiếc thuyền lớn.

Thân thuyền đen xì.

Đầu thuyền treo hai chiếc đèn lồng đỏ.

Nếu phát hiện thiếu chương hoặc bất kỳ vấn đề nào, hãy phản hồi cho tôi! :)