Chương 20 - Thịt Rồng Và Những Nỗi Kinh Hoàng
Không được đáp lời.
Không được tin.
Nhưng giây tiếp theo, cha tôi trong kiệu cũng đưa mắt nhìn tôi.
Ánh mắt của ông giống y hệt cái nhìn cuối cùng ở Đầm Hắc Long.
Dịu dàng.
Mờ mịt.
Lại xót xa.
“Đứa trẻ.”
Ông cất giọng.
“Lại đây.”
“Cha mẹ đưa con đi.”
Viền mắt tôi tức khắc nóng bừng.
Bà mù thình lình giơ tay, vung mạnh một tát vào mặt tôi.
Bốp.
Mặt tôi lệch sang một bên, mùi máu tươi lan ra trong khoang miệng.
Bà gầm lên bên tai tôi.
“Cha mẹ cô chết là để cho cô được sống.”
“Chứ không phải để cô trèo lên kiệu.”
Tôi choàng tỉnh.
Nhìn lại cỗ kiệu, bên trong làm gì có bóng dáng cha mẹ tôi.
Chỉ có hai hình nhân được kết bằng cỏ lác tẩm nước.
Trên mặt hình nhân cỏ lác dán bức ảnh ố mốc của cha mẹ tôi.
Tã lót ôm trong ngực cũng không phải trẻ sơ sinh.
Mà là một khối nhau thai thối rữa.
Nụ cười của Triệu Thanh Hà nhạt đi vài phần.
“Bà mù.”
“Bà chướng mắt thật đấy.”
Lời vừa dứt, tám gã người giấy đồng loạt ngẩng phắt đầu lên.
Gương mặt giấy nứt toác làm đôi.
Từ kẽ nứt lộ ra những đôi mắt đỏ ngầu.
Bà mù nhét chiếc bát đựng ngọc vảy vào ngực tôi.
“Trốn bằng cửa sau.”
“Đến mương bãi tha ma ở hướng Đông Nam.”
“Ở đó có một cỗ quan tài vô danh.”
“Trong quan tài có cất giữ món đồ cuối cùng mà cha cô để lại.”
Tôi túm chặt lấy bà.
“Bà đi cùng tôi.”
Bà mù mỉm cười xót xa.
“Tôi vốn đâu còn là người sống nữa.”
Bà đưa mắt kẽm chĩa về phía tôi.
“Con nhóc nhà họ Hứa.”
“Nhớ kỹ.”
“Trước khi đến mười tám đốt, cô tuyệt đối đừng để mắt nước nhìn thấy ánh trăng.”
Tôi còn chưa kịp hiểu ra, cửa chính túp lều đổ sầm một tiếng chói tai.
Cỗ kiệu hoa đâm sầm vào nhà.
Triệu Thanh Hà đứng ngoài cửa, cái bóng của hắn dưới tán ô đen kéo lê dài thượt.
Cái bóng luồn qua ngạch cửa, bò lổm ngổm tựa con rắn đen ngòm, siết chặt lấy cổ chân Bà mù.
Bà mù đẩy phăng tôi ra cửa sau.
“Chạy đi!”
15
Khoảnh khắc tôi ngã nhào ra khỏi cửa sau, trong nhà vang lên tiếng đồng xu rớt loảng xoảng.
Một đồng.
Hai đồng.
Ngay sau đó, là giọng chửi rủa khàn đặc của Bà mù.
“Triệu Thanh Hà.”
“Nhà họ Triệu ba đời buôn nước nuốt người.”
“Hôm nay lão bà này sẽ thay mặt lũ đàn bà dưới nước, xé xác mi trước.”
Tôi ngoái nhìn, chỉ thấy trong túp lều lóe lên một tia sáng trắng lóa.
Bà mù tự móc hai đồng xu trong hốc mắt mình ra, ấn chặt lên tấm gương vỡ nát.
Chín mảnh gương lập tức sáng bừng.
Từ mỗi mảnh vỡ, một bàn tay phụ nữ đẫm nước thò ra, quặp chặt lấy cái bóng của Triệu Thanh Hà.
Lần đầu tiên sắc mặt Triệu Thanh Hà biến đổi.
Hắn lùi lại một bước.
Một giọt máu rớt xuống từ tán ô đen.
“Mụ già khốn khiếp.”
“Mày dám mở Cửu Thủy Kính?”
Bà mù cười khùng khục.
“Mắt ta còn chẳng có.”
“Có gì mà không dám?”
Chớp mắt, lũ người giấy trong kiệu hoa đồng loạt lao vào trong.
Tôi tận mắt thấy Bà mù bị bọn người giấy đè bẹp xuống đất.
Bà vẫn há cái miệng móm mém, cắn ngập cổ họng một gã người giấy.
Người giấy không có máu.
Chỗ bị cắn chảy ra dòng nước đen đục ngầu.
Trong dòng nước đen nhung nhúc vô số bàn tay nhỏ xíu, hì hục cào xé bò ra.
Tôi không dám nhìn thêm, ôm chặt chiếc bát sứ thô chạy thục mạng ra bãi cỏ hoang sau nhà.
Mớ tro đen trong bát rung lên bần bật.
Ngọc vảy bị đè dưới lớp tro, chốc chốc lại hắt ra ánh sáng trong vắt.
Lời dặn cuối cùng của Bà mù không ngừng văng vẳng trong đầu tôi.
Trước khi đến mười tám đốt, tuyệt đối đừng để mắt nước nhìn thấy ánh trăng.
Giờ đang là ban ngày.
Nhưng nếu tôi không trụ được đến tối mịt để tìm cỗ quan tài vô danh kia thì sao?
Đằng sau vang lên tiếng kèn xô-na.
Nhạc điệu lần này đã đổi khác.
Tiếng nhạc hỷ xen lẫn tiếng khóc than, tựa như đám cưới nửa chừng bỗng hóa thành đám ma.
Tôi chạy băng qua bãi cỏ hoang, lao về hướng Đông Nam.
Mắt cá chân bong gân ngày càng sưng tấy, mỗi bước đi như giẫm lên mảnh chai vỡ.
Nhưng tôi biết Triệu Thanh Hà sẽ không buông tha cho tôi.
Hắn không giống Triệu Vạn Thành.
Triệu Vạn Thành tham sống sợ chết, hám danh hám lợi.
Còn Triệu Thanh Hà thèm khát toàn bộ mạch nước.
Hắn không chỉ muốn sống.
Hắn muốn biến dòng oán khí trong nước thành công cụ kiếm tiền của riêng mình.
Dưới sườn đồi quả nhiên có một rãnh hào bãi tha ma.
Trong hào san sát những ụ đất nhô lên lởm chởm.
Nhiều ngôi mộ không có bia, chỉ có đoạn gỗ mục nát cắm phập xuống đất.
Vài ngôi mộ bị nước mưa xối lở, phơi bày cả nửa bộ xương trắng hếu.
Tôi đứng bên mép hào, đăm đăm nhìn những nấm mồ san sát, tim chùng xuống.
Cỗ quan tài vô danh.
Nơi đây la liệt mồ vô danh.
Tôi biết tìm ở đâu?
Ngay lúc ấy, con dao rựa cũ trong lòng tôi đột ngột khẽ rung lên.
Lớp bùa chú màu đỏ thẫm trên sống dao sáng lóe lên.
Tôi rút dao ra.
Mũi dao từ từ chếch về phía góc sâu nhất dưới đáy hào.
Nơi đó có một gốc cây hòe khô mục.
Dưới gốc cây là một cỗ quan tài màu đen bị chôn lấp một nửa dưới đất.
Nắp quan tài không đóng khít.
Từ kẽ hở mọc ra vài cọng cỏ màu trắng.
Lớp cỏ đung đưa theo chiều gió, trông hệt như mái tóc của con người.
Tôi trượt người xuống đáy hào, tiến lại gần cỗ quan tài đen.
Quan tài đã mục nát.
Nhưng trên đầu quan tài có khắc ba đường vạch xiên xẹo.