Chương 6 - Quay Về Ngày Định Mệnh
Bà xoa hai tay vào nhau. Không biết nên nói gì.
Cha từ gian nhà chính bước ra.
Ông nhìn thấy tôi. Cũng nhìn thấy phong bì trong tay tôi.
Im lặng rất lâu.
“Tháng sau con của anh con chào đời. Chị dâu con sức khỏe không tốt, mẹ con phải chăm nó ở cữ.”
“Chuyện của con… con tự lo liệu đi.”
“Vâng.”
Tôi xoay người định rời đi.
“Niệm Nhi.”
Cha gọi tôi lại.
Tôi quay đầu.
Ông đứng ở cửa gian nhà chính, ngược sáng nên không nhìn rõ vẻ mặt.
“Con… sau này có tiền đồ rồi, đừng quên anh con.”
Tôi nhìn bóng dáng ông giữa ánh sáng.
Ông gầy đi.
Lưng cũng không còn thẳng như trước.
Đời trước, khi tôi chết ở Đông Bắc, có lẽ ông cũng giống như thế này.
Gầy.
Còng lưng.
Đứng trước cửa giống như một thân cây già sắp khô chết.
“Con sẽ không quên.”
Tôi nói.
Sau đó rời đi.
Không quay đầu.
Không phải vì giận dỗi.
Mà vì quay đầu cũng chẳng còn ý nghĩa gì nữa.
Họ sẽ không nói:
“Xin lỗi.”
Tôi cũng sẽ không nói:
“Không sao.”
Kết cục tốt nhất giữa chúng tôi chính là mỗi người sống cuộc đời của mình.
Mùa hè năm 1982.
Tôi tốt nghiệp đại học.
Khoa Ngữ văn, Trường Sư phạm tỉnh.
Bốn năm.
Thành tích đứng thứ ba toàn khoa.
Khi phân công công tác sau khi tốt nghiệp, chủ nhiệm khoa gọi tôi tới nói chuyện.
“Đồng chí Thẩm Niệm, Trường Trung học Số Một ở tỉnh thành có một vị trí giáo viên Ngữ văn, điều kiện rất tốt. Thành tích và biểu hiện thực tập của em đều phù hợp.”
“Em suy nghĩ xem.”
“Cảm ơn thầy. Em muốn về huyện.”
“Về huyện?”
Thầy nhíu mày.
“Điều kiện của Trường Số Một huyện làm sao so được với tỉnh thành. Em…”
“Em biết.”
“Nhưng em đã hứa với một người.”
“Ai?”
“Bà Tôn.”
Chủ nhiệm khoa nhìn tôi rồi thở dài.
“Đám thanh niên các em thật là…”
“Được rồi, để tôi hỏi giúp em xem trường huyện còn chỉ tiêu không.”
Tôi trở về huyện thành.
Nhưng không phải Trường Số Một huyện.
Mà là một trường cấp hai ở phố Nam.
Rất gần nhà.
Đi bộ mười phút là tới.
Nhà bà Tôn nằm ngay đối diện trường.
Ngày đến nhận công tác, tôi đứng trước cổng trường.
Nhìn những học sinh đang chạy trên sân.
Nhìn bức tường loang lổ của tòa nhà dạy học.
Nhìn lá cờ đỏ năm sao tung bay trên đỉnh cột cờ.
Gió thổi tới.
Mang theo mùi vị của mùa xuân.
Mùi đất.
Mùi cỏ xanh.
Còn có chút hương hoa táo ngọt ngào.
Cây táo trong ngõ Đậu Phụ chắc cũng đã nở hoa rồi.
Mùa thu năm 1982.
Tôi đứng trên bục giảng.
Bên dưới là một đám trẻ mười bốn, mười lăm tuổi.
Những cái đầu đen kín lớp.
Những đôi mắt sáng long lanh.
“Tôi tên là Thẩm Niệm.”
“Từ hôm nay, tôi sẽ là giáo viên Ngữ văn của các em.”
Tôi xoay người, viết tên mình lên bảng.
Viên phấn ma sát với bảng đen phát ra những tiếng kèn kẹt.
“Tiết đầu tiên, chúng ta không học bài trong sách.”
“Chúng ta sẽ nói về một chuyện.”
“Tại sao phải học?”
Đám trẻ bên dưới yên lặng.
“Trong các em, có ai là con cả trong nhà không?”
“Có ai là con gái không?”
“Có ai từng nghe cha mẹ nói rằng: ‘Con là con gái, học nhiều cũng vô dụng, sớm muộn gì cũng là người nhà khác’ không?”
Im lặng một lúc.
Một cô bé giơ tay.
Tóc tết thành hai bím nhỏ.
Gương mặt tròn tròn.
Đôi mắt rất lớn.
Trên người mặc chiếc áo vải xanh đã giặt bạc màu.
“Thưa cô, mẹ em từng nói.”
“Em tên gì?”
“Lưu Tiểu Cúc.”
“Tiểu Cúc, em có muốn đi học không?”
“Muốn ạ.”
“Tại sao?”
Con bé suy nghĩ.
“Bởi vì… trong sách viết về thế giới bên ngoài.”
“Em muốn ra ngoài xem thử.”
Tôi nhìn con bé.
Lưu Tiểu Cúc mười bốn tuổi.
Mặt tròn.
Mắt lớn.
Áo vải xanh bạc màu.
Giống hệt tôi năm xưa.
“Được.”
“Cô sẽ giúp em.”
Tôi mở sách giáo khoa.
“Hôm nay chúng ta học bài đầu tiên, ‘Từ Bách Thảo Viên Đến Tam Vị Thư Ốc’, của tiên sinh Lỗ Tấn.”
“Ông viết về một khu vườn.”
“Trong vườn có luống rau, cây bồ kết, quả dâu, tiếng ve kêu, ong vàng, chim sơn ca…”
Ánh nắng từ ngoài cửa sổ chiếu vào.
Rơi trên bục giảng.
Rơi trên sách giáo khoa.
Rơi trên mu bàn tay tôi.
Ấm áp.
Tôi nhìn những đứa trẻ bên dưới.
Lưu Tiểu Cúc đang chăm chú ghi chép.
Cậu bé bên cạnh lén ngủ gật.
Hai nữ sinh phía cuối lớp đang chuyền giấy cho nhau.
Tôi giả vờ như không nhìn thấy.
Ngoài cửa sổ truyền đến một tràng cười.
Là học sinh lớp bên cạnh đang học thể dục.
Trên sân có người chạy.
Có người nhảy.
Có người đuổi theo một quả bóng.
Nắng rất đẹp.
Gió rất nhẹ.
Mùa thu năm 1982 cứ yên bình như vậy mà đến.
Năm 1985.
Bà Tôn qua đời.
Bà ra đi rất thanh thản.
Tối hôm trước đi ngủ.
Sáng hôm sau không tỉnh lại nữa.
Con trai bà từ tỉnh thành vội vàng trở về lo tang lễ.
Sau khi làm xong mọi việc, lúc chuẩn bị rời đi, anh đưa chìa khóa cho tôi.
“Cô giáo Thẩm, căn nhà này cô cứ ở đi.”
“Khi mẹ tôi còn sống, nhờ có cô chăm sóc bà.”
“Không cần đâu.”
“Tôi ở ký túc xá trường là được.”
“Anh giữ căn nhà lại đi, sau này trở về còn có chỗ ở.”
Anh nhìn tôi.
Không nói thêm.
Tôi giúp anh khóa căn nhà lại.