Chương 10 - Nha Hoàn Chấp Niệm Tình
Sau khi xác định phương thuốc có hiệu quả, ta công bố đơn thuốc ra ngoài. Không lâu sau, dịch bệnh cuối cùng cũng được kiểm soát. Lúc này ta mới biết trận dịch này nghiêm trọng đến mức nào, năm châu quận bị lũ quét đều có đại dịch, thậm chí trong kinh thành cũng có không ít người mắc phải. Nếu không điều trị kịp thời, e rằng sẽ gây ra hậu quả khôn lường.
Lúc ta đi, có rất nhiều người trong làng đến tiễn ta và Tạ Lan Chi. Họ gọi ta là Bồ Tát nương nương, người dân trong làng chẳng có gì quý giá, người tặng một con cá mặn, người tặng một rổ trứng gà. Thậm chí có nhiều người quỳ lạy ta, đoàn người tiễn đưa kéo dài hàng trăm, hàng ngàn người, tưởng như bất tận.
Trong lòng ta dâng lên một cảm giác khó tả. Vừa vui vì cứu được nhiều mạng người, nhưng cũng tiếc nuối vì không tìm ra đơn thuốc sớm hơn, khiến bao nhiêu người phải chết oan.
Tạ Lan Chi dường như nhìn ra tâm tư của ta, nắm lấy tay ta: “Nàng đã làm rất tốt rồi, nàng cứu sống hàng vạn, thậm chí hàng chục vạn mạng người, những người này đều nhờ có nàng mới được sống.”
Ta gật đầu. Nắng gắt, mùa hè oi ả. Ta vẫy tay với đám đông phía xa: “Ta đi đây, mọi người bảo trọng!”
15
Ngày về kinh là một ngày nắng đẹp. Hoa cỏ trong Hoán Phong viện đã cao hơn một đoạn so với lúc đi, nha hoàn vừa giúp ta thu dọn hành lý vừa sụt sùi: “Người cuối cùng cũng về rồi, nô tỳ nghe nói người gặp lũ quét, sợ đến mất hồn mất vía…”
Ta chưa kịp an ủi nàng thì bên ngoài bỗng xôn xao. Người của cung đình đến. Dẫn đầu là một thái giám mặt trắng không râu, tay cầm thánh chỉ màu vàng rực, cười híp mắt: “Hà thị tiếp chỉ—”
Ta quỳ trên đất, tim đập thình thịch như đánh trống.
“… Hà thị Vãn Đường, đoan trang chuẩn mực, lòng nhân từ ái. Lúc dịch bệnh hoành hành đã nghiên cứu lương phương, cứu sống vô số người, Trẫm rất hài lòng. Đặc phong làm Nhân An Huyện chủ, ban thực ấp ba trăm hộ, khâm thử.”
Tất cả mọi người trong phủ đều ra quỳ lĩnh chỉ, nghe xong ai nấy đều nhìn ta với ánh mắt phức tạp, kinh ngạc. Tai ta ù đi, gần như không nghe rõ những lời tiếp theo.
Huyện chủ? Ai? Ta?!
Thái giám đưa thánh chỉ vào tay ta, cười híp mắt: “Chúc mừng Huyện chủ, người cứu được bao nhiêu mạng người, quả là công đức vô lượng. Trong nhà tôi có một cô em gái cũng nhờ uống thuốc của người mới khỏi bệnh. Thánh chỉ này là do Tạ đại nhân đặc biệt xin cho người, ngài ấy còn xin Hoàng thượng ban hôn nữa.”
Ta ngẩng phắt đầu lên. Tạ Lan Chi đang đứng ở cửa viện, mỉm cười nhìn ta. Thái giám đi rồi, Tạ Lan Chi bước tới, lấy ra một cuộn giấy từ trong ống tay áo đưa cho ta.
Đó là hôn thư. Nền giấy màu đỏ tươi, viết rõ hợp hôn canh thiếp, nam hôn nữ giá, minh môi chính thú.
Ta nhìn chàng. Chàng cụp mắt, giọng thấp xuống: “Ngày đó ở nhà cỏ bái đường, ngay cả một bộ hỉ phục ra hồn cũng không có. Ta đã nói sẽ cưới nàng làm chính thê, cái này mới thực sự tính là cưới.”
Ta siết chặt cuộn hôn thư, nửa ngày không nói được lời nào. Cuối cùng ta cũng đợi được ngày này, nhưng không ngờ người cưới ta lại là Tạ Lan Chi.
Ta sụt sịt mũi, cố ý làm mặt nghiêm: “Ai đồng ý gả cho chàng chứ?”
“Hoàng thượng đồng ý rồi.” Chàng mặt không đổi sắc, “Trong thánh chỉ viết rõ, ban hôn Huyện chủ Nhân An cho Đại lý tự Thiếu khanh Tạ Lan Chi. Nàng không nghe kỹ sao?”
Ta vội vàng mở thánh chỉ ra xem lại lần nữa, cuối cùng quả nhiên có câu này. Ta nhìn vào mắt chàng, đôi mắt vốn trầm tĩnh chững chạc nay lại hiện lên vài phần lo lắng hiếm thấy.
Ta không nhịn được bật cười, nhào vào lòng chàng: “Được, ta gả cho chàng!”
…
Lão phu nhân đích thân gọi ta đến, nắm tay ta nói một hồi lâu, rồi thở dài: “Lan Chi đứa trẻ này mắt nhìn người tốt, cũng là kẻ có phúc.” Sau đó bà cho ta một trang viên ở ngoại ô kinh thành. Đại phu nhân tặng ta một bộ trang sức hồng ngọc giá trị liên thành, nói là của hồi môn của bà. Ngay cả Lão hầu gia vốn chẳng quan tâm chuyện hậu trạch cũng tặng ta vài cửa tiệm làm quà thêm.
Ta biết tất cả những điều này là nhờ đạo thánh chỉ kia. Giờ đây ta là Nhân An Huyện chủ, không còn là một tiểu nha hoàn bị người ta tùy ý nhào nặn nữa.
Ngày cưới định vào mười sáu tháng chín. Tạ Lan Chi đòi đủ ba thư sáu lễ, mở tiệc linh đình, hận không thể cho cả kinh thành đều biết ngài ấy sắp cưới vợ.
Ta cười ngài ấy phô trương, ngài ấy lại lý lẽ: “Lần trước nạp thiếp chỉ có một cỗ kiệu nhỏ đi cửa ngách, lần này phải bù lại. Ta muốn nàng đi cửa chính, kiệu tám người khiêng, mười dặm hồng trang.”
“Làm gì có chuyện bù như thế?”
Ngài hiếm khi cố chấp: “Chính là phải bù.”
Những ngày đó, cả Hoán Phong viện bận rộn không ngơi tay. Ta đón Xuân Đào về phòng mình, nàng hớn hở dẫn đám nha hoàn may hỉ phục, đối chiếu lễ đơn, thu dọn sính lễ, suốt ngày hối hả.
Không ngờ, đúng lúc này, Tạ Ký Bạch tìm đến.
Ta gần như không nhận ra hắn. Chỉ trong vài tháng không gặp, hắn gầy sọp đi nhiều, bộ bào vốn vừa vặn giờ mặc lên người trông trống huơ trống hoác. Nghe nói hắn cũng mắc ôn dịch, hôm nay mới vừa tỉnh lại sau cơn hôn mê. Và hắn cũng được cứu sống nhờ đơn thuốc của ta.