Chương 7 - Người Phụ Nữ Bên Bếp Cũ
Sau này phố cổ bị dỡ bỏ, tiệm đóng rồi lại mở, thay người rồi lại thay biển hiệu, bệ bếp vẫn còn đó, cô ta cũng vẫn luôn ở đó.
Đa phần thời gian cô ta chỉ ở đó một cách mơ hồ, nghe được người ta nói chuyện, nhìn thấy nồi bốc hơi, nhưng rất khó để thực sự hiện thân.
Cho đến khi tôi hồi nhỏ ở nhà bà nội, đã gọi cô ta ra một lần.
“Cô ngồi thụp bên cạnh bếp, ôm cái bát, mắt khóc đỏ hoe.” Văn Thê nhìn tôi, “Cô bảo có người cùng ăn cơm thì tốt biết mấy, đừng để cô một mình.”
Mũi tôi cay cay, cúi đầu không nói gì.
“Thế là tôi ra thôi.” Cô ta tiếp tục, “Kể từ lần đó, tôi đã nhận ra cô rồi.”
Sau này bà nội phát hiện có gì đó không ổn, bèn cầu cứu Mã Hội Sơn và chuỗi hạt tính, trấn áp đoạn nhân duyên đó xuống.
Tôi quên rồi, nhưng cô ta thì không.
Cô ta bị trấn áp trở lại, chỉ có thể đứng từ xa mà nhìn.
Đợi đến khi tôi trưởng thành vào thành phố, mệnh hỏa dần yếu đi, bà nội cũng ngày một già yếu, cô ta có thể cảm nhận được sợi dây liên kết đó vẫn còn, nhưng từ đầu đến cuối không sao nắm chắc được.
Cho đến sau này, tôi lâm vào đường cùng, quay về làng trong phố tiếp quản cửa tiệm cũ này, một lần nữa nhóm lại lửa bếp.
“Tôi mới có thể dần ổn định lại được.” Cô ta nói.
Tôi ngẩng đầu nhìn cô ta, hốc mắt đã nóng rát vì đau: “Vậy nên thứ cô canh giữ từ trước đến nay không chỉ là cửa tiệm.”
“Ừ.” Cô ta khẽ đáp một tiếng, “Là đứa trẻ ngồi thụp bên bếp cầu xin có người cùng ăn cơm đó.”
Gió đêm làm mắt tôi thấy xốn xang, nhưng tôi lại không nhịn được mà bật cười một cái, cười rồi lại muốn khóc.
“Cô có ngốc không hả.” Giọng tôi khàn đặc, “Chỉ vì một câu nói lúc nhỏ của tôi mà cô canh giữ đến tận bây giờ?”
Văn Thê nhìn tôi, không trả lời câu này, chỉ chậm rãi đưa tay lên xoa mặt tôi.
Tay cô ta vẫn lạnh lẽo, nhưng lần này tôi không tránh né.
“Tôi chỉ là đã ch//ết thôi.” Cô ta lại nhắc lại lần nữa, “Chứ không phải không muốn ở bên cô nữa.”
Câu này vừa thốt ra, tôi thực sự không gồng nổi nữa.
Tôi gục đầu xuống, trán tựa lên vai cô ta, bả vai đột ngột thả lỏng.
Những thứ bấy lâu nay luôn căng như dây đàn, hình như cuối cùng cũng tìm được một nơi để hạ xuống.
Tôi không khóc thành tiếng, nhưng nước mắt vẫn cứ trào ra, nóng hổi đến mức chính tôi cũng thấy bàng hoàng.
Văn Thê không nói gì thêm, chỉ từng chút từng chút một, vỗ về lưng tôi một cách gượng gạo.
Như đang dỗ dành một đứa trẻ.
24
Lúc trời sắp sáng, tôi đưa Văn Thê về tiệm.
Bây giờ cô ta còn rất yếu, không thể rời xa bệ bếp cũ quá lâu, vừa vào đến bếp sau hình dáng liền ổn định hơn một chút.
Tôi vịn vào cạnh bệ bếp đứng vững, ngẩng đầu nhìn, lá bùa ở miệng bếp đã nứt ra một khe nhỏ.
Có lẽ lúc nãy cô ta cưỡng ép xông ra đã làm lá bùa trấn bếp bị lỏng đi.
Tôi đưa tay định giật ra, Văn Thê ngăn tôi lại: “Đừng xé bạo lực vội.”
“Vậy phải làm sao?”
“Đợi lửa lên đã.” Cô ta nói, “Lửa càng vượng, nó tự khắc sẽ không áp chế nổi nữa.”
Tôi gật đầu.
Không lâu sau, ngoài cửa cuốn vang lên tiếng bước chân. Mã Hội Sơn lại đến. Ông ta đứng ở cửa, thấy Văn Thê hiện thân trở lại, sắc mặt rõ ràng biến đổi một hồi.
“Cô thế mà lại xông ra được.” Ông ta nói.
Văn Thê không nhìn ông ta, chỉ đứng bên bếp canh chừng lửa.
Tôi đứng chắn phía trước, giọng lạnh lùng: “Ông còn đến đây làm gì nữa?”
Mã Hội Sơn im lặng một lát, thở dài: “Tôi tính sai rồi.”
“Ông đương nhiên là tính sai rồi.”
“Cô ta không phải là âm hồn bình thường.” Ông lão nhìn về phía Văn Thê, “Trên người cô ta có bếp nguyện, lại có hơi thở nhân gian những ngày qua treo giữ, có muốn đóng đinh cũng không tán được. Nhưng Thẩm Tri Nhạn, tôi vẫn nói câu đó, người ma khác đường, cô cứ tiếp tục thế này mãi, mệnh hỏa sẽ không chịu nổi đâu.”
Tôi siết chặt nắm tay, không nói gì.
Văn Thê lại lên tiếng trước: “Cũng không phải là không còn con đường nào khác.”
Mã Hội Sơn nhìn cô ta.
“Chỉ cần lửa bếp không tắt, hơi thức ăn không ngừng, tôi có thể ở lại.” Giọng Văn Thê không cao nhưng rất vững, “Thứ tôi mượn là hơi thở nhân gian, không nhất thiết phải bám hết vào cô ấy.”
Tôi ngẩn người, quay đầu nhìn cô ta: “Thật sao?”
“Thật.” Cô ta nhìn tôi, “Chỉ là không được rời xa lửa quá lâu, cũng không được làm càn như dạo trước nữa.”
Mã Hội Sơn nhíu mày: “Cô trụ được bao lâu?”
“Trụ được bao lâu, phải xem cửa tiệm này mở được bao lâu.” Văn Thê nói.
Bếp sau im lặng một hồi.
Tôi chợt hiểu ý của cô ta rồi.
Không phải dựa vào mệnh hỏa của tôi để giữ cô ta lại, mà là dựa vào cửa tiệm này, dựa vào làn hơi trắng bốc lên mỗi sớm mai, dựa vào từng xửng bánh bao, từng nồi sữa đậu mà khách hàng mua đi, dựa vào việc có người luôn nhớ đến miếng cơm nóng này. Hơi thở nhân gian không dứt, cô ta sẽ vẫn còn nơi để dừng chân.
Đây không phải là con đường viên mãn nhất, nhưng đã là một lối thoát rồi.
Tôi ngẩng đầu nhìn Mã Hội Sơn: “Nghe thấy chưa?”
Ông lão nhìn tôi hồi lâu, cuối cùng chỉ nói: “Cô tự suy nghĩ cho kỹ, cô ta có thể ở lại, cô cũng phải sống cho tốt, đừng có ngày nào đó lại chạy lên sân thượng nữa.”
Tôi không hử một tiếng.
Mã Hội Sơn quay người bỏ đi, đến cửa lại dừng chân một chút: “Thứ năm đó bà nội cô cầu xin, là mong cô có hơi người, có cơm ăn, có người nhớ đến. Chứ không phải cầu cô tự hủy hoại chính mình.”
Nói xong, ông ta thực sự đi mất.
Tôi đứng chôn chân tại chỗ, mũi thấy cay cay, hồi lâu sau mới hoàn hồn lại.
Chân trời đã hửng sáng, ngoài hẻm bắt đầu có những người dậy sớm đi ngang qua Tôi kéo cửa cuốn lên hẳn, quay vào bếp sau, bắt đầu rửa nồi, đổ nước, nhào bột, trộn nhân. Từng việc từng việc một, thành thục đến mức không thể thành thục hơn.
Văn Thê đứng trong làn hơi nước, dáng hình vẫn nhạt nhòa, nhưng so với đêm qua thì vững chãi hơn nhiều.
Tôi đặt mẻ bánh bao đầu tiên lên bếp, đậy nắp xửng lại, quay đầu nhìn cô ta: “Sau này canh giữ thế nào?”
“Giống như trước đây thôi.” Cô ta nói, “Cô ở phía trước bán, tôi ở phía sau làm, tiệm không được để nguội lạnh.”
“Thế sau này tôi già đi thì sao?”
“Cô già rồi, tôi vẫn canh giữ.” Văn Thê nhìn tôi, ánh mắt rất tĩnh lặng, “Đợi đến khi cô thực sự không đi nổi nữa, tôi sẽ lại cùng cô đi tiếp chặng đường sau.”
Nghe xong, tôi bỗng bật cười.
Lần này không phải nụ cười khổ, cũng không phải gồng mình chống đỡ, mà là kiểu cười khi luồng khí trong lòng ngực cuối cùng cũng được thông suốt. Tôi đưa tay quệt mặt một cái, đứng trước mặt cô ta, thấp giọng nói: “Được, vậy cô cùng tôi canh giữ nồi sữa đậu ngày mai trước đã.”
Văn Thê gật đầu.
Xửng hấp chẳng mấy chốc đã kêu “xì xì” bốc lên hơi trắng, hơi nóng bốc lên nghi ngút, như thể cả cửa tiệm lại một lần nữa sống dậy.
Xúc Xích không còn nữa, bà nội cũng không còn nữa, rất nhiều thứ vẫn không giữ lại được. Nhưng ít nhất vào khoảnh khắc này, tôi biết trong bếp có lửa, trong tiệm có người, trời sáng rồi sẽ lại có khách đẩy cửa bước vào, gọi một câu: “Bà chủ, cho hai xửng bánh bao”.
Đứng trước làn hơi trắng, tôi chợt hiểu ra rồi.
Thứ thực sự giữ Văn Thê lại chốn nhân gian không phải là cửa tiệm này, cũng chẳng phải chỉ là cái bệ bếp cũ đó.
Mà là từ rất nhiều năm về trước, có một đứa trẻ không ai bầu bạn, đã nói một câu bên bệ bếp.
Cô đừng đi, cùng con ăn bữa cơm đi.