Chương 7 - Người Lặng Im Trong Đêm Tối
Gió ngoài cung là thứ gió hoang dã, từ bốn phương tám hướng ùa đến, mang theo mùi bùn đất và mùi tanh của cỏ dại.
Ta suýt chút nữa đã hít sâu một hơi.
Cố nhịn xuống.
Vẫn chưa đến lúc.
Lại đi thêm rất lâu, mặt đường nhấp nhô lồi lõm, chiếc chiếu càng bị xóc nảy dữ dội hơn.
Cuối cùng cũng dừng lại.
“Đến nơi rồi, bãi tha ma.”
“Ai ký nhận?”
“Người canh mộ.”
Có người bước tới, tiếng bước chân rất nặng, ủng dẫm lên đá sỏi lạo xạo.
Một cây bút vạch lên mặt giấy.
Ký tên xong.
“Được rồi, vứt ở đây đi.”
Hai tên thái giám ném chiếc chiếu xuống đất, quay lưng bỏ đi luôn.
Đi được vài bước, một tên quay đầu lại dặn một câu.
“Này người canh mộ, đây là người của cung Phượng Nghi, đừng có đụng chạm linh tinh, ngày mai có người đến nghiệm thu đấy.”
“Biết rồi.”
Tiếng bước chân xa dần.
Hoàn toàn biến mất.
Bốn bề chỉ còn lại tiếng côn trùng rỉ rả và tiếng gió thổi.
Xa xa có tiếng cú mèo kêu, từng tiếng từng tiếng nối nhau, giống như đang gọi hồn.
Chiếu rách bị xé bung ra.
Ánh trăng đâm thẳng vào mắt, ta hơi nheo mắt lại.
Một người đang đứng trước mặt.
Nón lá, áo ngắn vải thô, trong tay vẫn siết chặt cây bút lông tưa ngòi ban nãy.
Huynh ấy tháo nón lá xuống.
Dưới ánh trăng, khuôn mặt giống ta đến năm phần.
Chân mày đậm hơn, cằm vuông hơn, môi khô nứt nẻ sùi cả bọt trắng, trên mặt in hằn những vết cháy nắng đỏ rựng.
Nhị ca, Thẩm Bách.
Huynh ấy ngồi xổm xuống, đưa tay thăm dò dưới mũi ta.
Sau đó thở hắt ra một hơi.
“Sống.”
Nói xong một chữ, tay huynh ấy run rẩy.
Run rẩy dữ dội.
Bàn tay nắm chặt cây bút lông kia, các đốt ngón tay đã trắng bệch.
“Đi thôi, tam muội.”
Giọng huynh ấy khàn đặc không ra hơi, như có cát sỏi nghẹn trong cổ họng.
“Cha mẹ đang đợi muội về nhà.”
Ta muốn mở miệng, há miệng vài cái, không phát ra tiếng.
Cổ họng bị rượu thiêu đốt, vừa khô vừa đau rát.
Nhị ca kéo ta ra khỏi tấm chiếu.
Chân ta mềm nhũn, đứng không vững, huynh ấy một tay xốc ta dậy.
“Thay y phục trước đã.”
Huynh ấy từ phía sau một tấm bia đá lấy ra một cái tay nải.
Bên trong là y phục của một phụ nhân nông thôn, bằng vải thô, hoa văn nền xanh vụn vặt, còn có một đôi hài vải, một chiếc khăn đội đầu.
Ta dựa vào bia đá thay y phục, những ngón tay không nghe lời, cái cúc áo phải cài đến ba lần mới vào khớp.
Nhị ca xoay lưng lại phía ta, ánh mắt chằm chằm nhìn về hướng con đường vừa tới.
“Làm sao nhận được thư?”
Thay y phục xong, ta rốt cuộc cũng rặn ra được tiếng nói.
“Một tiểu thái giám mang đến, không nói tên, bỏ thư lại rồi đi.”
“Sao huynh vào được bãi tha ma?”
“Lão già canh mộ tháng trước chết rồi, không ai tiếp nhận, ta bỏ ra hai lạng bạc để thế chỗ cái chức này.”
“Huynh ngồi canh ở đây bao lâu rồi?”
“Hai tháng.”
Hai tháng.
Từ lúc ta truyền thư đi đến nay, tổng cộng mới mười ngày.
Trước khi ta truyền thư, huynh ấy đã đến đây rồi.
“Sao huynh biết ta sẽ xảy ra chuyện?”
Nhị ca không quay đầu lại.
“Cha nói.”
“Cha nói gì?”
“Cha nói, nha đầu vào trong cung, sớm muộn gì cũng phải đi con đường này.
Kêu ta trải sẵn đường trước.”
Ta tựa vào bia đá, ánh trăng chiếu rọi một mảng những ụ đất cao thấp nhấp nhô trước mặt.
Đó đều là những nấm mồ.
Đều là những người bị khiêng ra từ trong cung điện kia.
Không có bia, không có tên, cỏ hoang mọc cao nửa người, gió thổi qua kêu xào xạc.
Ta cúi đầu nhìn tay mình.
Vẫn còn đang run.
“Đi nổi không?”
Nhị ca hỏi.
“Nổi.”
“Vậy thì đi, nhân lúc trời chưa sáng.”
Huynh ấy gấp gọn bộ đồ cung nữ của ta, nhét trở lại vào trong chiếc chiếu rách, cuộn chặt chiếu lại như cũ, nhìn từ xa giống hệt bên trong vẫn có người nằm.
Sau đó huynh ấy nắm lấy tay ta, men theo con đường mòn ven rìa bãi tha ma, đi về hướng Bắc.
Trăng rất sáng.
Con đường rất dài.
Cứ đi một bước, ta lại ngoái đầu nhìn về hướng vách tường hoàng cung.
Một khoảng đen đặc, chẳng còn nhìn thấy gì nữa cả.
09
Đường hoang rất khó đi.
Đá dăm cứa vào chân, trong bụi cỏ có côn trùng bò lên ống quần, sương đêm làm ướt sũng gấu váy.
Nhị ca đi phía trước, một tay vạch cỏ, một tay kéo ta đi.
Bàn tay huynh ấy thô ráp như giấy nhám, chai sần từng mảng.
Là bàn tay của người thợ rèn.
“Chậm một chút.”
Huynh ấy ngoái lại nhìn ta.
“Đi được mà.”
“Đừng cậy mạnh.”
Ta không nói thêm, chỉ rảo bước nhanh hơn.
Đi khoảng chừng một canh giờ, nhị ca kéo ta quặt ra khỏi đường lớn, chui vào một cánh rừng.
Trong rừng càng tối hơn, ánh trăng bị cành lá cắt vụn, rơi thành từng đốm nhỏ trên mặt đất.
“Còn bao xa nữa?”
“Đi thêm hai dặm nữa, có một con sông, bên kia sông có chiếc xe bò.”
“Của ai vậy?”
“Cha mượn.”
Lúc đến bờ sông, chân ta đã mềm nhũn tưởng chừng như sắp quỵ xuống.
Sông không rộng, nước không sâu, chỉ xấp xỉ đầu gối.
Nhị ca cõng ta lên lưng, lội nước qua sông.
Nước sông buốt giá ngấm ướt cả ống quần huynh ấy, nhưng huynh ấy bước rất vững vàng, không chệch choạc một nhịp nào.
Bờ bên kia quả nhiên có đỗ một chiếc xe bò.
Con bò bị buộc vào thân cây, đang cúi đầu gặm cỏ.
Trên xe rải một lớp rơm rạ, bên trên phủ thêm một tấm chăn.
Dưới chăn có người.
“Cha?
Mẹ?”
Tấm chăn bị lật ra.
Mẹ ta thò đầu ra, hai mắt đỏ hoe như thỏ.