Chương 3 - Người Gả Thay Chị Gái
Lưu Mãn Thương dập tắt đầu thuốc, nhìn tôi rất lâu rồi nói một câu.
“Xuân Hòa nói đúng. Lương thực của cô ấy là tự cô ấy có bản lĩnh kiếm được, không ai có tư cách lấy không.”
“Nhưng—” ông ngừng một chút, nhìn tôi, “Cô có chịu cho mượn không? Không phải cho không, là mượn. Sang năm đầu xuân thu hoạch được lương thực, trả cả vốn lẫn lãi cho cô.”
Tôi đợi chính là câu này.
“Có thể cho mượn. Nhưng tôi có điều kiện.”
“Điều kiện gì?”
“Tôi muốn đại đội phê chuẩn cho tôi mở rộng trồng trọt trên mảnh đất hoang đó, không chỉ khoai lang, mà còn cả dược liệu.”
8
Đó là một ván cược, nhưng tôi thắng.
Sáu trăm cân khoai lang cho mượn bốn trăm cân, giúp hơn nửa làng chống đỡ qua mùa đông đó.
Sang năm đầu xuân người trả lương thực xếp hàng trước cửa nhà tôi. Có người trả dư thêm hai mươi cân, nói là tiền lãi. Có người trả không đủ số, nhưng vác hai bó gỗ tốt tới để trừ.
Tôi không so đo.
Nhưng từ đó về sau, trong làng không còn ai gọi tôi là “con bé thay chị gả đi đáng thương nhà họ Cố” nữa.
Họ bắt đầu gọi tôi — Xuân Hòa”. Không kèm họ, không kèm thân phận, chỉ hai chữ.
Trong thời đại đó, được người ta gọi thẳng tên mình mà không thêm bất kỳ định ngữ nào, là một sự công nhận.
Chuyện mở rộng đất hoang, Lưu Mãn Thương phê duyệt rất nhanh. Chuyện sương sớm khiến ông hoàn toàn tin tôi, thiên tượng hay không ông không quan tâm, ông chỉ nhận một lý — “Con bé này có đầu óc.”
Đất mở rộng ra, một nửa trồng khoai lang, một nửa tôi để trống chưa động tới.
Bởi vì tôi đang đợi một người.
Kiếp trước người này tới vào mùa đông năm sáu tư, một nhóm thanh niên trí thức từ thành phố xuống nông thôn, trong đó có một nữ thanh niên trí thức tên là Trần Giác.
Đeo kính tròn, trắng trẻo sạch sẽ, trước đây là sinh viên Trường Y tế Thủ đô, học điều dưỡng và thảo dược.
Kiếp trước cô ấy tới rồi không ai để ý, ở điểm thanh niên trí thức hai năm rồi về thành. Chúng tôi chưa từng nói với nhau một câu.
Kiếp này thì khác.
Mười ngày trước khi vào đông, điểm thanh niên trí thức quả nhiên có một nhóm người tới.
Trong đám đông tôi liếc mắt đã nhận ra cô ấy — vừa gầy vừa nhỏ, đeo kính tròn, đứng trong gió lạnh run lập cập, tay ôm một chiếc va-li da cũ, trên va-li dán nhãn “Trường Y tế Thủ đô”.
Tôi bước tới, đưa cho cô ấy một củ khoai lang nướng trong tay.
“Cô tên Trần Giác phải không? Đi theo tôi.”
Cô ấy ngơ ngác nhìn tôi, mặt đầy mờ mịt.
“Cô… quen tôi sao?”
“Không quen. Nhưng tôi quen cái nhãn trên va-li cô.” Tôi cười cười, “Nhà tôi có mảnh đất, muốn trồng dược liệu, thiếu người hiểu nghề. Nếu cô chịu dạy tôi nhận biết thảo dược, tôi lo cho cô mỗi ngày một bữa cơm nóng.”
Trong thời đại đó, một bữa cơm nóng còn có tác dụng hơn bất kỳ lời hứa nào.
Cô ấy ôm củ khoai nướng, ra sức gật đầu.
9
Học nhận biết thảo dược với Trần Giác là vụ làm ăn đáng giá nhất tôi từng làm trong đời này.
Cô ấy mang theo hai quyển giáo trình cũ của trường y, giấy đã vàng và giòn, nhưng chữ và hình minh họa trên đó vẫn nhìn rõ.
Ban ngày tôi làm việc ngoài ruộng, ban đêm dưới đèn dầu hỏa học với cô ấy.
Bà Triệu câm may cho tôi một cái túi vải, mỗi lần lên núi tôi đều đeo theo, thấy loại thảo dược nào vẽ trong sách là nhổ cả rễ mang về.
Chưa đến mấy tháng, tôi đã nhận ra bảy tám chục loại dược thảo thường thấy trong núi, học được cách xử lý vết thương và khâu đơn giản.
Lần đầu tiên dùng tới là vào vụ xuân.
Chồng của Vương Quế Hoa ở sân phơi lúa bị lưỡi liềm cứa một vết, máu chảy lênh láng. Trạm y tế gần nhất ở huyện cách bốn mươi dặm, chờ đưa tới đó người đã chết rồi.
Tôi ngồi xuống xem vết thương, may mà chưa đứt mạch máu lớn.
Kim chỉ, rượu mạnh, khử trùng, khâu lại. Trước sau chưa tới nửa tiếng.
Chồng Vương Quế Hoa đau kêu oai oái, nhưng máu đã cầm.
Chuyện này truyền ra, ánh mắt cả làng nhìn tôi lại thay đổi.
Nhà ai con bị tiêu chảy, nhà ai người già ho, đều tới tìm tôi.
Lưu Mãn Thương tìm tôi, nói cấp trên có chính sách khuyến khích các đại đội lập phòng y tế, hỏi tôi có muốn đi huyện tham gia đào tạo bác sĩ chân đất không.
“Muốn.” Tôi gần như buột miệng.
Nhưng trước khi xuất phát, tôi làm một việc mà kiếp trước không làm được.
Tôi gửi gắm Trần Giác cho Vương Quế Hoa, nhờ bà giúp trông nom ruộng dược liệu. Lại chuẩn bị sẵn khẩu phần ăn cho bà Triệu câm đủ một tuần, mỗi ngày ăn gì, thuốc hâm thế nào, tôi đều vẽ ra giấy dán bên bếp.
Bà Triệu câm nhìn những bức vẽ đó, bỗng nhiên cười.
Bà nắm tay tôi ra hiệu hồi lâu, tôi mới hiểu ý bà —
“Người nhỏ cô vẽ xấu quá.”
Tôi cũng cười.
Ngày lên đường tôi ngoái đầu nhìn một cái, bà Triệu câm đứng ở cổng sân, quàng chiếc khăn bông tôi làm cho bà, ra sức vẫy tay với tôi.
Tôi không biết rằng — ba ngày sau khi tôi đi, chị tôi đã tới.
10
Những chuyện này là sau đó bà Triệu câm ra hiệu kể lại cho tôi xem, Vương Quế Hoa giúp phiên dịch.
Chị tôi, Tần Xuân Phương, bụng mang thai năm tháng, xuất hiện trước cổng sân nhà họ Cố.
Chị nhìn đống củi xếp ngay ngắn trong sân và bức tường đã sửa xong, nhìn ấm thuốc đang hâm trên bếp và chum lương thực đầy một nửa, đứng đó nhìn rất lâu.
Rồi chị nhìn thấy bà Triệu câm.
Một bà lão không nói được, mặc chiếc áo bông cũ vá chằng vá đụp, gầy đến mức trên mặt chỉ còn xương, nhưng ánh mắt thì sáng.
Chị tôi mở miệng.
“Thím Triệu, tôi là chị của Xuân Hòa. Xuân Hòa không có nhà à?
Thế càng tốt, tôi nói với thím — nhà tôi thật sự khó khăn, mẹ tôi bảo tôi tới lấy ít lương thực.
Nếu Xuân Hòa có ở đây, nó mặt mỏng ngại mở miệng, tôi tới lấy là được.”
Bà Triệu câm nghe không rõ chị tôi đang nói gì.
Nhưng khi tay chị tôi đưa về phía chum lương thực, bà Triệu câm động rồi.
Bà chộp lấy cổ tay chị tôi.