Chương 1 - Người Gả Thay Chị Gái

🔥 Mời bạn theo dõi page Đậu Xanh Rau Má để đọc sớm nhất các truyện mới nhất!

Ngày tôi thay chị gái gả vào núi sâu, cả nhà không một ai ra tiễn.

Chị mặc chiếc áo bông mới tôi dành dụm tem vải suốt ba năm đổi được, trốn trong gian bếp cười.

“ Hừ, mạng cô cứng hơn tôi, trong núi khổ cực, cô chịu đựng được mà.”

Nhà chồng đến đón dâu là một con lừa qu/ è chân và một bà lão câm.

Tôi ngồi trên lưng lừa ngoái đầu nhìn lại, mẹ tôi đứng ở cổng sân cắn hạt dưa, mí mắt cũng chẳng buồn nhấc lên.

Người tôi gả cho tên là Cố Hoài An, quân nhân đóng quân nơi biên cương, năm năm chưa từng về nhà.

Mẹ chồng nói đời này anh ta có khi cũng sẽ chẳng quay về nữa.

“Cô cứ coi như thủ tiết sống vậy đi, chăm lo tốt cho mấy sào ruộng là được.”

Tôi không lên tiếng.

Kiếp trước, tôi gửi hết lương thực và công điểm về nhà mẹ đẻ, cuối cùng ch/ ếc đói trong ngọn núi này.

Mẹ tôi cầm túi khẩu phần cuối cùng của tôi, làm tiệc cưới cho chị gái.

Còn người đàn ông năm năm chưa từng về nhà kia, sau này đã trở về.

Anh qu/ ỳ trước hai nấm mồ suốt ba ngày ba đêm, phát điên một thời gian, rồi sau đó đi đâu, chẳng ai biết.

Làm lại một lần nữa, tôi siết chặt dây cương lừa.

Lần này, không ai được phép cướp khỏi bát tôi thêm một hạt gạo nào nữa.

Còn người đàn ông đã qu/ ỳ trước mộ ba ngày ấy —

Lần này, tôi sẽ không để khi anh trở về, ngay cả một người chờ anh cũng không có.

1

Mùa đông năm sáu ba lạnh đến tà môn.

Theo con lừa què vượt qua hai ngọn núi, lúc trời sắp tối, tôi nhìn thấy ngôi làng nhỏ nép trong khe núi.

Lác đác chừng hai mươi hộ, nhà đất sụp xệ nằm bò dưới chân núi, khói bếp mảnh như sợi chỉ.

Bà mẹ chồng câm đi phía trước, quay lại ra hiệu mấy cái với tôi, ý là đến rồi.

Bà họ Triệu, là mẹ của Cố Hoài An, bốn năm trước mắc một trận bệnh nặng cháy hỏng cổ họng, từ đó không nói được nữa. Người trong làng đều gọi bà là bà câm họ Triệu.

Sân nhà họ Cố ở chỗ cao nhất cuối làng. Ba gian nhà đất, tường sân sụp mất một nửa, dùng mấy bó củi khô chặn tạm bừa bãi.

Đẩy cửa vào, bếp lạnh ngắt, chum nước cạn đáy, trên giường đất trải một lớp rơm ố vàng.

Tôi mở gói đồ mang theo — một bộ quần áo thay và nửa cân khoai lang khô.

Bà Triệu câm lục phía sau bếp lấy ra một bọc vải, bên trong là hai cái bánh bột đen và mấy quả táo đỏ khô teo tóp.

Bà nhét hết táo đỏ vào tay tôi, còn mình bẻ nửa cái bánh, chấm nước lạnh mà nhai.

Tôi nhìn mấy quả táo trong lòng bàn tay, cổ họng nghẹn lại.

Kiếp trước bà Triệu câm cũng như vậy, đem hết thứ tốt duy nhất cho tôi. Còn tôi thì sao?

Hết chuyến này đến chuyến khác gửi lương thực về nhà mẹ đẻ, đến mùa đông năm thứ ba, bà nằm trên giường đất không còn động tĩnh, thân nhẹ như một bó củi khô.

Tôi siết chặt mấy quả táo, một quả cũng không ăn.

“Mẹ, táo này mẹ giữ lại đi, sau này con sẽ nghĩ cách.”

Bà Triệu câm sững người, một lúc lâu mới đưa tay lau khóe mắt.

Có lẽ vì tôi đã gọi tiếng “mẹ” ấy.

Kiếp trước tôi vào cửa ba tháng đầu, vẫn chưa từng mở miệng gọi bà một tiếng mẹ.

Đêm đó tôi không ngủ.

Tôi dựa vào mép giường đất, từng việc của kiếp trước lướt qua trong đầu.

Mùa đông năm sáu ba gả vào đây. Mùa xuân năm sáu tư bắt đầu gửi lương về nhà mẹ đẻ.

Năm sáu lăm bà Triệu câm bệnh nặng.

Năm sáu sáu tuyết lớn phong núi, lương thực đứt đoạn. Đầu xuân năm sáu bảy, tôi chết đói trên giường đất.

Bà Triệu câm đi trước tôi ba tháng.

Còn những lương thực tôi gửi về, mẹ tôi không tiết kiệm một hạt nào, tất cả đều nhét vào miệng nhà chị gái.

Kiếp này, tôi nhớ rõ mỗi năm sẽ xảy ra chuyện gì.

Mùa thu năm sáu tư sẽ có một trận sương sớm, làm chết quá nửa hoa màu.

Mùa đông năm sáu sáu sẽ có một trận tuyết lớn năm mươi năm mới gặp một lần, phong núi cắt đường suốt bốn mươi ngày.

Những thứ kiếp trước lấy mạng tôi, kiếp này đều là quân bài trong tay tôi.

Trước khi trời sáng, tôi đã đưa ra quyết định.

Việc đầu tiên — tích trữ lương thực.

2

Ngày thứ ba sau khi gả tới, tôi dọn dẹp trong ngoài sân một lượt.

Bức tường sân sập mất nửa được tôi dùng đá nhặt trên núi xây lại một đoạn, khe hở trét bùn vàng.

Lò sưởi giường đất được vét sạch tro rồi nhóm lại, trong nhà cuối cùng cũng có hơi ấm.

Bà Triệu câm vẫn ở bên cạnh đưa đồ giúp, vẻ mặt từ kinh ngạc chuyển thành xót xa. Bà kéo tay áo tôi không cho tôi làm nữa, chỉ chỉ bếp lò rồi chỉ vào mình.

Tôi lắc đầu, “Mẹ, mẹ nghỉ đi, để con làm.”

Nhưng tâm trí tôi không đặt ở mấy việc đó.

Kiếp trước tôi chỉ biết cắm đầu làm việc, làm xong thì chờ gửi lương thực về nhà mẹ đẻ. Chưa từng nghĩ rằng, chính ngọn núi này vốn dĩ là một kho báu.

Sáng sớm ngày thứ tư, tôi cầm theo giấy giới thiệu của đội sản xuất đến trụ sở đại đội.

Người mở cửa là đội trưởng Lưu Mãn Thương, một người đàn ông da đen khoảng năm mươi tuổi, cầm lá thư của tôi lật qua lật lại xem ba lần.

“Cô là người gả cho Cố Hoài An đó à?”

“Vâng.”

“Cô biết cậu ta mấy năm rồi chưa về chứ? Chuyện tiền tuyến ai mà nói trước được—”

“Đội trưởng, tôi muốn đăng ký tham gia lao động của đội sản xuất, tính công điểm như xã viên chính thức. Ngoài ra tôi muốn hỏi, mảnh đất hoang trên sườn núi phía sau làng, có ai trồng không?”

Lưu Mãn Thương sững lại. “Mảnh đất dốc đó? Đá nhiều đất mỏng, trồng không được hoa màu, chẳng ai cần.”

“Tôi cần.”

“Công điểm tôi vẫn kiếm theo quy định, còn mảnh đất hoang đó tôi tự khai khẩn thêm, không chiếm của đội sản xuất. Tôi tự trồng chút gì đó, không phạm quy chứ?”

Ông ta đánh giá tôi từ trên xuống dưới một lượt. Có lẽ chưa từng thấy cô dâu mới gả tới đã mở miệng đòi đất.

“Không phạm. Nếu cô có sức thì cứ việc khai.”

Khi bước ra khỏi trụ sở, trong lòng tôi đã có tính toán.

Mảnh đất đó không trồng được hoa màu, nhưng trồng được khoai lang. Khoai lang không kén đất, chịu hạn chịu nghèo dinh dưỡng, sản lượng lại cao.

Quan trọng hơn là — trận sương sớm mùa thu năm sáu tư đó, làm chết quá nửa ngô và cao lương, nhưng không làm chết khoai lang nằm dưới đất.

Kiếp trước cả làng đói suốt một mùa đông.

Kiếp này sẽ không như vậy nữa.

3

Suốt mùa xuân tôi ban ngày đi làm kiếm công điểm cho đội sản xuất, chiều tối lên sườn núi hoang cuốc đất.

Mảnh đất đó toàn đá vụn, một cuốc bổ xuống chỉ đào được cái hố bằng bàn tay. Nước phồng trên tay vỡ rồi lại mọc, mọc rồi lại vỡ, sau này kết thành lớp chai dày.

Người trong làng thấy tôi ngày nào trời tối còn ở trên núi cuốc đất, sau lưng bàn tán không ngớt.

“Con dâu mới nhà họ Cố chắc không bình thường đâu nhỉ? Cái đất nát đó trồng cái khỉ gì.”

“Tội nghiệp, đàn ông không ở nhà, một mình gánh hết.”

Chỉ có một người không bàn tán.

Bà tên là Vương Quế Hoa, phụ nữ trung niên trong tổ khai hoang, lúc làm việc luôn dịch lại gần phía tôi.

“Con nhóc nhà cô sức cũng không nhỏ đâu.” Bà vừa vung cuốc vừa liếc tôi, “Gả cho thằng lính nhà họ Cố à? Mấy năm không về, cũng chẳng biết sống chết ra sao.”

“Còn sống.” Tôi lật một mảng đất đóng băng lên, “Anh ấy ở tiền tuyến bảo vệ đất nước, không chết được.”

“Ồ, cứng cỏi đấy.”

Bà không nói thêm gì, nhưng chiều tối hôm sau, bà vác cuốc xuất hiện trên sườn đất hoang của tôi.

“Rảnh cũng rảnh, giúp một tay.”

Tôi không khách sáo, từ đó về sau, Vương Quế Hoa mỗi ngày giúp tôi làm một giờ. Đến giữa tháng Năm, mảnh đất hoang đó được chúng tôi khai khẩn thành tròn hai mẫu.

Dây khoai lang là tôi nài nỉ Lưu Mãn Thương ba ngày mới được phê duyệt. Ông ta chê tôi lãng phí giống, tôi nói không dùng giống của đội sản xuất, tôi dùng công điểm của mình đổi.

Ông ta không cãi lại nổi, buông một câu “Con nhóc cô còn bướng hơn lừa”, rồi ký giấy.

Tối hôm trồng xong, tôi về nhà, phát hiện trên bếp có thêm một bát canh nóng.

Bà Triệu câm đứng bên cạnh, chỉ vào bát canh rồi chỉ vào tôi, ý bảo uống lúc còn nóng.

Trong canh nổi lềnh bềnh mấy lá rau dại và một miếng thịt muối nhỏ không biết bà tiết kiệm từ đâu ra.

Tôi bưng bát uống một ngụm, mặn đến đắng, nhưng dạ dày lập tức ấm lên.

Bà Triệu câm nhìn tôi uống hết, lặng lẽ mỉm cười.

Tôi nghĩ thầm, kiếp này bất kể thế nào, tôi nhất định phải để người đối tốt với tôi này sống mà nhìn thấy ngày tháng tốt đẹp.

Nhưng tôi không biết rằng, thư của mẹ tôi đã đang trên đường tới.

4

Sau khi vào xuân đợt công điểm đầu tiên đổi được lương thực, tôi vác hai mươi cân bột ngô và mười cân khoai lang vượt núi trở về.

Từ xa đã thấy trước cổng nhà có một người đứng.

Là mẹ tôi.

Bà mặc chiếc áo vải xám vá mấy miếng, tóc quấn bằng mảnh vải đen, đứng ở cổng sân ngó đông ngó tây. Thấy tôi về, mặt chất đầy nụ cười.

“Xuân Hòa, mẹ đến thăm con.”

Tôi không nói gì, vòng qua bà mang lương thực vào nhà.

Bà Triệu câm đang đun nước bên bếp, thấy mẹ tôi, trong mắt thoáng qua một tia bất an.

Ánh mắt mẹ tôi dán chặt vào bao bột ngô tôi vừa vác về, nhưng miệng lại nói chuyện khác.

“Chị con sắp sinh rồi, trong nhà thật sự không có gì bồi bổ cho nó. Con không phải vừa chia được lương thực sao, san cho mười cân—”

“Không được.” Tôi chuyển lương thực vào tủ trong buồng, cài then cửa.

Mặt mẹ tôi lập tức sa sầm.

“Xuân Hòa, đó là chị ruột của con.”

“Chị ruột của con mặc chiếc áo bông mới con dành dụm ba năm tem vải đổi được, để con thay chị gả vào ngọn núi này.”

Tôi quay người lại, từng chữ từng chữ nhìn bà.

“Mẹ, lúc con gả đi, mẹ còn không ra khỏi cửa tiễn.”

“Số lương thực này là mạng của con và mẹ Triệu. Một hạt cũng không thể thiếu.”

Mặt mẹ tôi đỏ bừng, môi run lên hồi lâu.

“Đồ vong ơn bội nghĩa! Nuôi mày lớn từng này, mày báo đáp cha mẹ thế à?”

Chửi xong bà đứng dậy đi ra ngoài, đến cửa lại quay đầu nhìn chằm chằm đống lương thực trong nhà một cái.

Tôi chắn trước tủ không nhúc nhích.

Cuối cùng bà cũng đi.

Bà Triệu câm kéo tay tôi, nắm thật chặt. Môi bà mấp máy không phát ra tiếng, nhưng tôi hiểu.

Bà đang nói — Con gái, có mẹ ở đây.

Nhưng mẹ tôi đi chưa đầy ba ngày, anh rể tôi đã tới.

Nếu phát hiện thiếu chương hoặc bất kỳ vấn đề nào, hãy phản hồi cho tôi! :)