Chương 2 - Người Đã Chết Trở Về
Ta cúi đầu cầm đũa, gắp một miếng dê non hấp.
Ngay khi thức ăn vào miệng, trong bụng ta liền cuộn lên. Dạ dày đã mười hai năm không tiếp xúc với đồ mặn căn bản không thể chịu nổi.
Ta cố nén cảm giác buồn nôn, nuốt xuống.
Di nương nhìn ta, giọng nói dịu dàng đến mức không thể dịu dàng hơn.
“Ăn chậm thôi. Sau này muốn ăn gì, con cứ nói với nhà bếp.”
Ta đặt đũa xuống, đứng dậy hành lễ.
“Đa tạ di nương đã khoản đãi, ta xin phép trở về trước.”
“Phải gọi là phu nhân.”
Nữ hài kia đột nhiên lên tiếng, giọng nói trong trẻo.
“Mẹ ta là phu nhân danh chính ngôn thuận, không phải di nương. Tỷ phải gọi là phu nhân.”
Ta nhìn nàng một cái.
Nàng nghiêng đầu nhìn ta, đôi mắt sáng long lanh, giống như đang sửa lại một sai lầm hết sức bình thường.
Ta mỉm cười, không đáp lời, xoay người bước ra ngoài.
Phía sau truyền đến giọng nói thong thả của di nương:
“Trì Thê, bên ngoài trời tối đường trơn, để Thúy Bình đưa con về. Sức khỏe của con không tốt, sau này vẫn nên hạn chế đi lại.”
Chương 3
“Tiểu thư, nô tỳ đến nhà bếp lấy cho người một bát cháo nhé? Bữa tối người chẳng ăn được gì cả.”
Xuân Đào đi phía sau ta, cẩn thận hỏi.
Ta lắc đầu. Vừa bước vào Phật đường, ta đã trực tiếp quỳ xuống bồ đoàn.
Không phải để lễ Phật, mà vì hai chân thật sự đau nhức đến mức không chống đỡ nổi nữa.
Một người mười hai năm không vận động nhiều, chỉ đi một chuyến qua lại chính viện mà đầu gối đã run lên.
Xuân Đào bưng nước nóng tới chườm chân cho ta, vừa làm vừa lẩm bẩm:
“Tiểu thư cần gì phải đi chuyến ấy? Bọn họ có phải người dễ đối phó đâu…”
“Xuân Đào.”
Ta ngắt lời nàng.
“Ngươi có biết trong gia phả, ta đã chết rồi không?”
Chiếc khăn trong tay Xuân Đào rơi xuống chậu, nước bắn ướt cả váy nàng.
Sắc mặt nàng lập tức trắng bệch.
“Tiểu thư… sao tiểu thư lại…”
“Ngươi biết.”
Ta nhìn phản ứng của nàng, bình tĩnh nói:
“Ngươi biết từ khi nào?”
Xuân Đào quỳ xuống, nước mắt lập tức trào đầy mặt.
“Tiểu thư, nô tỳ không cố ý giấu người! Ba năm trước, Thúy Bình tới truyền lời, nói phu nhân không cho phép nô tỳ nhiều lời, nếu không sẽ bán nô tỳ đến…”
“Ta không trách ngươi.”
Ta đỡ nàng dậy.
“Ta chỉ muốn biết ngoài chuyện này ra, ngươi còn giấu ta những gì?”
Xuân Đào khóc đến nấc lên, đứt quãng nói:
“Tướng quân… tướng quân đã trở về kinh thành từ ba năm trước… hiện đang sống trong chính viện…”
Ta gật đầu.
Chuyện này ta đã biết.
“Còn gì nữa?”
“Tướng quân chưa từng… chưa từng đến biên ải.”
Các ngón tay ta siết chặt.
“Cái gì?”
Xuân Đào ngẩng khuôn mặt đẫm nước mắt lên, đôi môi không ngừng run rẩy.
“Nô tỳ cũng chỉ nghe bà tử Vương ở nhà bếp nói… Năm ấy tướng quân chỉ xuống phía nam làm công vụ, ba tháng sau đã trở về. Khi ấy tiểu thư mới năm tuổi. Phu nhân nói với tướng quân rằng tiểu thư còn quá nhỏ, sợ tướng quân không chăm sóc được, chi bằng để người ở lại kinh thành…”
Ba tháng.
Không phải mười hai năm.
Mà là ba tháng.
Cha ta chỉ mất ba tháng đã trở về.
Sau khi trở về, ông không bao giờ bước vào Phật đường phía hậu viện dù chỉ một lần.
“Tiểu thư…”
“Ta biết rồi.”
Giọng nói của ta nghe vô cùng bình tĩnh, ngay cả chính ta cũng cảm thấy kỳ lạ.
“Còn gì nữa?”
Xuân Đào ra sức lắc đầu.
“Nô tỳ chỉ biết những chuyện này thôi, thật đấy… Tiểu thư, người định làm thế nào? Có cần tìm tướng quân nói rõ mọi chuyện không? Ông ấy là cha ruột của người, dù thế nào cũng không đến mức…”
“Xuân Đào.”
Ta lại gọi nàng một tiếng.
“Ngươi cảm thấy một người cha ba tháng đã về nhà, nhưng mười hai năm không tới thăm nữ nhi lấy một lần, là vì ông ấy không biết ta ở hậu viện, hay vì ông ấy không muốn biết?”
Xuân Đào há miệng, không nói được lời nào.
Ta cũng không cần nàng trả lời.
Đêm ấy, ta không chép kinh.
Ta nằm trên giường, nhìn tấm màn trên đỉnh đầu, nhớ lại từng chuyện xảy ra trong mười hai năm qua.
Năm năm tuổi, ta hỏi Xuân Đào khi nào cha trở về, Xuân Đào nói sắp rồi.
Năm bảy tuổi, ta mắc một trận bệnh nặng, sốt suốt ba ngày ba đêm. Di nương chỉ sai một đại phu tới xem một lần, để lại phương thuốc rồi rời đi.
Đêm giao thừa năm ta mười tuổi, bên ngoài Phật đường mơ hồ vang lên tiếng pháo và tiếng cười đùa. Ta trèo lên đầu tường muốn nhìn, nhưng bị ma ma kéo xuống.
Năm mười ba tuổi, ta làm lễ cập kê.
Không một ai đến.
Ngay cả Xuân Đào cũng chỉ hấp thêm cho ta một bát bánh đường so với ngày thường.
Đêm ấy, ta khóc rất lâu. Xuân Đào nói đợi cha đánh thắng trận trở về, nhất định sẽ bù cho ta một lễ cập kê.
Mười lăm tuổi, mười sáu tuổi, mười bảy tuổi.
Năm nào cũng giống nhau.
Y phục trắng thuần, kinh sách và ngọn đèn xanh hết bát thuốc đắng này đến bát thuốc đắng khác, hết cuốn kinh này đến cuốn kinh khác.
Ta từng cho rằng đây là sự che chở cha dành cho ta.
Bây giờ mới biết, đây chẳng qua là một ngôi mộ.
Ngôi mộ chôn người sống.
Sáng hôm sau, ta bảo Xuân Đào đi hỏi thăm một chuyện.
“Đi hỏi xem gần đây trong phủ có yến tiệc gì không.”
Xuân Đào do dự một lát nhưng vẫn đi.
Khi trở về, sắc mặt nàng vô cùng khó coi.