Chương 4 - Ngôi Nhà Của Bà Cụ
Chiều thứ Bảy, tôi đang lau nhà ở ngoài phòng khách.
Bà Chu ngồi bên cửa sổ, nhìn ra khu vườn trong khu tập thể.
Dưới lầu, có một bà cụ đang dắt theo một bé gái đi dạo, bé gái dùng giọng trẻ con nũng nịu gọi: “Bà nội, cháu muốn ăn kem!”
Bà cụ nói: “Không được, ăn vào sẽ đau bụng đấy.”
“Bà nội…”
“Được rồi được rồi, chỉ được ăn một que thôi nhé.”
Bà Chu nhìn họ, nhìn rất lâu cho đến khi họ đi khuất.
Rồi bà quay đầu lại, phát hiện tôi đang nhìn bà.
“Nhìn cái gì mà nhìn, lau nhà tiếp đi.”
“Bà ơi.”
“Sao?”
Tôi đặt cây lau nhà xuống, bước đến trước mặt bà.
“Cháu gọi bà là bà nội được không?”
Bà sững người.
Cả người, cả bóng ma, đều khựng lại.
“Cháu nói gì?”
“Cháu nói là, cháu có thể gọi bà là bà nội không.”
“Cháu…” Bà mấp máy môi, “Cháu cứ gọi bà là bà cụ cũng được, đừng gọi lung tung.”
“Cháu không gọi lung tung.”
Tôi nhìn bà.
“Bà quản chuyện ăn uống của cháu, quản chuyện mặc đồ của cháu, quản chuyện ngủ nghỉ của cháu, quản cháu tìm việc, quản cháu đuổi bạn trai cũ, quản cháu đối phó với họ hàng.”
“Bà nội ruột của cháu còn chưa từng quản cháu như vậy.”
“Đó là vì bà rảnh…”
“Bà không rảnh.”
“Mà là bà thương cháu.”
Bà không lên tiếng nữa.
“Bà ơi, bà từng nói cả đời này bà vẫn muốn có một đứa cháu gái.”
“Cháu không có bà nội.”
“Bà nội bên nội m/ất trước khi cháu ra đời, còn bà ngoại bên ngoại ở dưới quê, cả năm mới gặp được một lần.”
“Cho nên…”
Tôi sụt sịt mũi.
“Bà làm bà nội của cháu, cháu làm cháu gái của bà, không được sao?”
Bà Chu nhìn tôi.
Nhìn rất lâu.
Rồi bà mỉm cười.
Không phải kiểu cười nhiều lời như mọi hôm, cũng không phải kiểu cười đầy đắc ý.
Mà là kiểu… nhịn rất lâu, cuối cùng không nhịn nổi nữa mà bật cười.
Trong mắt có ánh sáng.
Trong mắt ma, hóa ra cũng có thể có ánh sáng.
“Con bé này,” Giọng bà hơi run, “Dẻo miệng thật.”
“Vậy cháu gọi nhé.”
“… Tùy cháu.”
“Bà nội.”
Bà quay mặt đi, giả vờ nhìn ra ngoài cửa sổ.
Nhưng tôi thấy bà đưa mu bàn tay lên lau mắt.
Ma cũng biết khóc sao?
Chắc là có.
“Bà nội, bà còn tâm nguyện gì không?”
Buổi tối, chúng tôi ngồi trong phòng khách.
Tôi pha một cốc trà, đặt vào chiếc cốc sắt tráng men trước mặt bà.
Bà không uống được, nhưng bà thích ngửi mùi trà.
Bà im lặng.
Rất lâu.
“Bà muốn nhìn thấy cháu sống tốt.”
“Bây giờ cháu sống tốt mà.”
“Không phải kiểu tốt này.”
Bà lắc đầu.
“Cháu có công việc tốt, có nhà riêng của mình.”
“Nhưng cháu vẫn đang sợ.”
“Sợ gì ạ?”
“Sợ nghèo, sợ bị người ta xem thường, sợ cô đơn một mình.”
Bà nhìn thẳng vào mắt tôi.
“An An, những nỗi sợ này không phải cứ có tiền là giải quyết được.”
Tôi hé miệng, nhưng không nói ra lời nào.
“Bà còn một tâm nguyện nữa.”
Giọng bà rất nhẹ.
“Bà muốn nhìn thấy cháu tự nấu cho bản thân một bữa ăn tử tế.”
“Nấu ăn ạ?”
“Cháu đến thành phố này hơn hai năm, ngày nào cũng ăn đồ hộp, mì tôm, ăn cho qua bữa.”
“Chưa bao giờ thật sự nghiêm túc nấu cho bản thân một bữa ra hồn.”
Bà nhìn tôi.
“Một người mà ngay cả chính mình cũng không muốn chăm sóc tử tế, thì làm sao có thể sống tốt được?”
“Bà nội…”
“Bà đã dạy cháu biết bao nhiêu món rồi, cháu học được chưa?”
“Cháu học được rồi.”
“Vậy thì nấu đi.”
“Không phải nấu cho ai khác, mà là nấu cho chính cháu.”
Bà dừng lại một lát.
“Nấu xong thì bày bát đũa đàng hoàng, ngồi xuống và ăn thật chậm.”
“Ăn xong, bà sẽ yên tâm.”
7.
Hôm sau là thứ Bảy.
Tôi dậy từ rất sớm.
Ra chợ mua sườn, hành gừng, khoai tây, cà chua, trứng gà.
Tôi còn mua thêm một nắm hành lá, bà Chu bảo hầm canh xong, rắc một nắm hành hoa lên trên thì mới thơm.
Về đến nhà, tôi rửa sạch rau củ rồi xếp gọn gàng trên bệ bếp.
Bà Chu lơ lửng đứng bên cạnh nhìn, không nói gì.
Tôi thắt tạp dề.
Chiếc tạp dề này là bà bảo tôi mua, bà nói “Làm bếp mà không thắt tạp dề thì quần áo sẽ hỏng hết”.
Sườn được cho vào nước lạnh để chần.
Lần này không làm sai nữa, không dùng nước nóng.
Vớt ra, rửa sạch, rồi bắc chảo lên bếp.
Phi thơm hành gừng, cho sườn vào xào, đổ nước vào, đun lửa lớn cho sôi rồi hạ nhỏ lửa để hầm từ từ.
Bà Chu đứng bên xem, khóe miệng khẽ giật giật.
Không bắt bẻ ra được lỗi nào.
Đây là lần đầu tiên bà không chê điểm nào.
Trong lúc hầm canh, tôi làm thêm một đĩa cà chua xào trứng, một đĩa khoai tây xào chua cay.
Đều là những món bà đã dạy.
Cà chua phải chần qua nước sôi trước thì mới dễ bóc vỏ.
Khoai tây thái sợi xong phải ngâm nước, nếu không sẽ dễ dính chảo.
Trứng gà phải cho nhiều dầu hơn một chút, xào lên mới mềm mịn.
Những điều này trước đây tôi hoàn toàn không biết.
Hơn hai năm sống ở thành phố này, thứ tôi ăn nhiều nhất là gà om vàng đặt về và mì tôm.
Chưa bao giờ tôi thật sự nghiêm túc tự nấu cho bản thân một bữa cơm.
Vì tôi luôn cảm thấy không đáng.
Ăn cơm một mình, làm gì cũng thấy phí.
Nhưng hôm nay thì khác.
Canh đã hầm xong.
Tôi múc canh sườn ra bát, rắc thêm một nắm hành hoa.
Cà chua xào trứng và khoai tây xào chua cay cũng được bày ra đĩa.
Cơm chín rồi, tôi xới ra một bát.
Tôi bày bát đũa ngay ngắn.
Bát đũa chỉ cho một người.
Nhưng được xếp rất chỉnh tề.
Đũa đặt bên phải bát cơm, bát canh đặt ở góc trên bên trái, đĩa thức ăn bày ở giữa.
Y như những gì bà Chu từng dạy.
Tôi ngồi xuống.
Bưng bát lên, húp một ngụm canh.
Vị ngọt thanh.
Ngon hơn lần đầu tiên rất nhiều.
Tôi gắp một miếng sườn, rồi gắp thêm một đũa khoai tây xào sợi.
Ăn từ từ.
Không phải đứng cạnh bếp vội vàng ăn vài miếng, cũng không phải vừa cắm mặt vào điện thoại lướt m/ạng vừa ăn.
Mà là ngồi xuống, từng miếng từng miếng, chậm rãi thưởng thức.
Ánh nắng bên ngoài cửa sổ hắt vào, trải lên mặt bàn.
Rất yên tĩnh.
Rất ấm áp.
Bà Chu ngồi đối diện, nhìn tôi ăn.
Bóng dáng của bà nhạt hơn bình thường một chút.
Nhưng bà đang mỉm cười.
“Ngon không?”
“Ngon lắm ạ.”
“Nhiều muối rồi.”
“Chẳng phải bà bảo không có lỗi nào sao?”
“Canh thì không có lỗi, nhưng khoai tây xào hơi nhiều muối.”
Tôi bật cười.
“Lần sau cháu sẽ cho ít lại.”
“Ừ.”
Bà nhìn tôi, nụ cười rất nhạt.
Sau đó, bóng hình của bà bắt đầu mờ dần.
Bắt đầu từ đôi chân.
Giống như sương sớm, bị ánh mặt trời làm tan đi từng chút một.
“Bà nội?”
Tôi buông đũa xuống.
“Đừng dừng lại,” Bà nói, “Ăn xong rồi hẵng nói.”
“Nhưng bà…”
“Ăn đi.”
Giọng bà rất khẽ, nhưng lại vô cùng kiên định.
Tôi bưng bát lên, tiếp tục ăn.
Tay run bần bật.
Nước mắt lả chả rơi xuống bát canh.
Nhưng tôi không dừng lại.
Từng miếng từng miếng, tôi ăn hết bữa cơm.
Khi đặt bát xuống, bóng hình bà Chu đã mờ lắm rồi.
Chỉ còn lại một đường viền nhàn nhạt.
“Bà nội.”
“Ừ.”
“Bà sắp đi rồi sao?”
“Ừ.”
“Nhìn thấy cháu ăn một bữa tử tế, bà yên tâm rồi.”
Giọng bà như vọng lại từ một nơi rất xa.
“An An, nhớ kỹ, sau này ngày nào cũng phải ăn uống đàng hoàng.”
“Đừng cứ ăn đồ ngoài mãi như thế.”
“Áo sơ mi xanh mua thêm vài cái.”
“Buổi tối phải ngủ trước mười một giờ.”
“Đừng nổi giận vì những kẻ không đáng.”
Giọng bà ngày một nhỏ hơn.
Đến câu cuối cùng, tôi gần như không còn nghe rõ nữa.
“Bà đi đây.”
“Cháu phải sống thật tốt.”
Rồi bà tan biến.
Như một cơn gió thoảng qua.
Chiếc cốc sắt tráng men trên bàn bếp vẫn còn nằm đó.
Năm chữ “Vì nhân dân phục vụ” lấp lánh dưới nắng.
Tôi ngồi trước bàn, nhìn khoảng trống im lặng đối diện.
Khóc rất lâu.
Những ngày sau đó, mọi thứ trôi qua rất đỗi bình yên.
Đèn không còn tự động chớp tắt nữa.
Bát đĩa cũng không còn tự rơi nữa.
Tivi không còn tự bật nữa.
Trên gương cũng không còn hiện ra những dòng chữ nguệch ngoạc.
Nhưng ngày nào tôi cũng nấu ăn đàng hoàng.
Bữa cơm một mình, tôi vẫn bày bát đũa ngay ngắn, ngồi xuống ăn thật chậm.
Những món ăn bà Chu đã dạy, tôi không quên món nào.
Cuối tuần, tôi đến một tiệm đồ gỗ mua một chiếc tủ nhỏ.
Đặt ở phòng khách, sát bên cửa sổ.
Trên tủ là di ảnh của bà Chu.
Bức ảnh chụp bà lúc hơn ba mươi tuổi, đứng trước cửa một tiệm nhỏ, đeo tạp dề, cười rất sảng khoái.
Tấm biển trên cửa tiệm ghi “Tiệm may Tú Lan”.
Tôi đặt chiếc cốc sắt tráng men bên cạnh bức ảnh, rót đầy một cốc trà.
“Bà nội, cháu dâng trà cho bà.”
“Hôm nay cháu làm món sườn xào chua ngọt bà đã dạy, không bị nhiều muối nữa đâu.”
Không có ai trả lời.
Nhưng tôi cảm thấy, bà có thể nghe thấy.
Về sau, mẹ tôi còn lên thăm thêm một lần nữa.
Vừa bước vào cửa, bà đã nhìn thấy bức ảnh đặt trên tủ.
“Đây là ai thế?”
“Bà nội con.”
“Bà nội con à?
Bà nội con chẳng phải…”
“Không phải bà nội ruột đâu mẹ.”
Tôi nhìn bức ảnh rồi mỉm cười.
“Nhưng còn thân hơn cả ruột thịt.”