Chương 7 - Mảnh Vỡ Tình Yêu
Bọng nước vỡ rồi lại mọc, mọc rồi lại vỡ, cuối cùng đóng thành những lớp chai dày, chẳng còn cảm thấy đau nữa.
Nhưng tôi không hề thấy mệt, ngược lại còn cảm thấy rất yên lòng.
Ít nhất, tôi đang sống bằng sức lao động của chính mình, không cần nhìn sắc mặt của bất kỳ ai.
Buổi tối, tôi ở trong ký túc xá tập thể của xưởng gạch, cùng hơn chục nữ công nhân chen chúc trên một chiếc giường lớn.
Họ đa phần là phụ nữ ở các thôn xóm lân cận, chất phác và lương thiện. Biết tôi đơn độc một mình, họ thường giúp tôi lấy cơm, vá áo.
Có một cô gái tên Xuân Hạnh, ngủ ở giường bên cạnh tôi, tính tình hoạt bát vui vẻ. Thấy ngày nào tôi cũng ôm một hũ tro cốt, cô tò mò hỏi:
“Chị Lâm trong hũ của chị đựng gì vậy? Sao chị quý thế?”
“Là cha mẹ tôi.”
Tôi khẽ nói,
“Tôi muốn tìm một nơi thích hợp để họ được an nghỉ.”
Xuân Hạnh sững người một chút, rồi lộ vẻ cảm thông.
“Chị Lâm chị thật không dễ dàng gì.
Đợi xong đợt bận này, em đi cùng chị lên núi xem thử, tìm chỗ phong cảnh đẹp, để bác trai bác gái yên nghỉ.”
Tôi gật đầu, trong lòng dâng lên một luồng ấm áp.
Ba tháng sau, xưởng gạch tạm ngừng hoạt động để chỉnh đốn.
Xuân Hạnh quả nhiên đi cùng tôi đến một thung lũng nhỏ gần đó.
Nơi ấy cây cỏ um tùm, suối chảy róc rách, khung cảnh thanh u.
Tôi tự tay đào một cái hố, cẩn thận đặt hũ tro cốt của cha mẹ vào, rồi từng nắm từng nắm lấp đất, đắp thành một nấm mồ nhỏ.
“Ba, mẹ, con bất hiếu, để ba mẹ phải chịu thiệt thòi.”
Tôi quỳ trước mộ, dập đầu ba cái thật mạnh,
“Từ nay về sau, đây chính là nhà của ba mẹ.
Con sẽ sống thật tốt, sẽ không để ba mẹ thất vọng.”
Gió thổi qua rừng cây, phát ra tiếng xào xạc, như thể cha mẹ đang đáp lại tôi.
Tôi đứng dậy, nhìn về bầu trời xa xa, tảng đá nặng trong lòng cuối cùng cũng rơi xuống.
Những ngày sau đó, tôi ăn tiêu dè sẻn, phần lớn tiền đều để dành, chỉ chừa lại chút ít đủ sống qua ngày.
Tôi biết, chỉ dựa vào việc làm thuê ở xưởng gạch thì không có lối thoát.
Muốn thay đổi số phận, con đường duy nhất chính là đọc sách.
Tôi bắt đầu dò hỏi khắp nơi xem có chỗ nào còn có thể học tập hay không.
Xuân Hạnh nói với tôi, trên thị trấn có một lớp học buổi tối, chuyên nhận người lớn, dạy chữ, dạy tính toán, cùng một số kiến thức văn hóa cơ bản.
Tôi lập tức ghi danh.
Thỉnh thoảng, tôi cũng nghe được tin tức về Cố Minh Viễn và bọn họ từ một người chú làm ở xưởng gạch.
Cháu trai của chú ấy là bộ đội, từng là đồng nghiệp của Cố Minh Viễn.
Chú nói rằng, sau khi Cố Minh Viễn đưa Thái Nhã Cầm về quê lao động cải tạo, cô ta chịu không nổi cực khổ, lại khóc lóc quay về tìm anh ta. Nhưng Cố Minh Viễn thậm chí không gặp mặt, trực tiếp bảo lính gác đuổi cô ta đi.
Sau đó nghe nói, ở công xã quê nhà, vì thanh danh không tốt, lại không chịu lao động đàng hoàng, Thái Nhã Cầm bị mọi người xa lánh, cuộc sống vô cùng thê thảm.
Khi nghe những tin này, trong lòng tôi không hề dậy sóng.
Kết cục của Thái Nhã Cầm là do chính cô ta lựa chọn, không thể trách người khác.
Chú ấy còn nói, từ sau khi tôi “chết”, Cố Minh Viễn như biến thành một con người khác.
Anh ta không còn hăng hái, khí thế như trước, trở nên trầm mặc ít nói, thường xuyên ngồi một mình ngẩn ngơ.
Anh ta dồn toàn bộ tinh lực vào công việc và việc chăm sóc con cái, yêu cầu Vệ Quốc và Vệ Hồng vô cùng nghiêm khắc, ép chúng phải học hành tử tế.
Vệ Quốc rất có chí, thành tích học tập luôn đứng đầu, sau đó thi đỗ vào trường trung học trọng điểm.
Vệ Hồng cũng thu lại sự ngang bướng ngày xưa, trở nên ngoan ngoãn hiểu chuyện, thành tích ngày càng tiến bộ.
Họ thường xuyên ra bờ sông, đứng trước tấm bia không chữ, đối diện dòng nước mà sám hối, hy vọng tôi có thể tha thứ cho họ.
Nghe những điều đó, lòng tôi vẫn bình thản.
Sự hối hận của họ đến quá muộn rồi.
Khi họ làm tổn thương tôi, sao không nghĩ đến ngày hôm nay?
Tôi đã không còn cần sự tha thứ của họ nữa. Tôi chỉ muốn sống tốt cuộc đời của chính mình.
Trời không phụ người có lòng. Một năm sau, tôi tốt nghiệp lớp học đêm với thành tích xuất sắc, còn nhận được bằng tốt nghiệp trung học phổ thông.
Đúng lúc này, tin tức khôi phục kỳ thi đại học được truyền đến.
Cả thị trấn sôi sục.
Vô số người giống như tôi – những người khao khát thay đổi vận mệnh – đều thắp lại hy vọng.
Nhưng đến lúc đăng ký, tôi lại lâm vào khó khăn.
Tôi không có giấy tờ tùy thân, cũng không có hộ khẩu.
Năm đó bị Cố Minh Viễn đưa về quê cải tạo, hộ khẩu của tôi đã bị chuyển đi từ lâu. Sau khi quay về cũng chưa kịp làm lại thủ tục.
Giờ tôi đã “chết”, hộ khẩu e rằng đã sớm bị hủy.
Xuân Hạnh thấy tôi lo lắng thì an ủi:
“Chị Lâm đừng vội. Chúng ta cùng nghĩ cách. Anh họ em làm ở đồn công an, để em đi hỏi xem anh ấy có giúp được gì không.”
Ôm một tia hy vọng mong manh, tôi theo Xuân Hạnh tìm đến anh họ của cô ấy.
Nghe xong tình cảnh của tôi, anh họ Xuân Hạnh lộ vẻ khó xử.