Chương 2 - Khi Kiệu Hoa Đưa Đến
Ta không đáp lời.
Lần này rời phủ, ta quyết chẳng quay lại nữa.
03
Xe ngựa rời khỏi thành, giữa đường chúng ta lại đổi sang đường thủy.
Lần đầu đi thuyền, ta liền bao trọn một chiếc thuyền nhỏ.
Thanh Đào vừa sợ vừa háo hức, ghé bên tai ta thì thầm:
“Tiểu thư, nghe nói thịt ở huyện Hoài ngon lắm, đến lúc ấy chúng ta nhất định phải ăn một bữa no nê.”
Nắng rọi vừa phải, gió nhẹ lướt qua mặt, con thuyền nhỏ xuôi theo dòng nước mà trôi đi.
Đến cả Điểm Xuân và Ô Đông cũng khoái chí đến nỗi phát ra tiếng khò khè khe khẽ.
Ta vừa vuốt ve chúng, vừa đáp lời Thanh Đào:
“Ăn! Nếu ngươi thích, ngày nào ta cũng cho ăn!”
Thanh Đào lẩm bẩm kể từ bánh thịt chiên, canh viên thịt, thịt khô, mãi đến cơm thịt muối bỗng chốc trầm ngâm.
“Nếu như di nương cũng được nếm thử thì hay biết mấy…”
A nương ta vốn là người huyện Hoài.
Thời nhỏ, người mồ côi phụ mẫu, phải rời quê theo thân thích.
Mấy nhà họ hàng nhận bạc mà chẳng chịu nuôi, cứ như quả bóng bị ném tới ném lui, hôm nay bị bỏ trước cửa nhà này, mai lại bị vứt ở cửa nhà khác.
Cho đến một ngày bị bán đi, theo chân bọn buôn người lên tận Dương Châu, mới được phụ thân ta chuộc về làm thiếp.
A nương chẳng còn nhiều ký ức về huyện Hoài, chỉ nhớ món cơm thịt muối năm xưa.
Người thường làm món ấy cho ta và Thanh Đào ăn, song ta cũng đã lâu lắm không được nếm lại, gần như quên mất hương vị.
Hôm ấy khi hay tin Thẩm Ngọc Thư trốn hôn, ta đã hạ quyết tâm sẽ về huyện Hoài, tự mình nếm lại món cơm năm xưa trong ký ức của a nương.
“Nếu a nương biết chúng ta thay người mà ăn, hẳn sẽ vui lắm.”
“Vậy thì nô tỳ sẽ ăn thay di nương hai bát!”
Thanh Đào nghiến răng gật đầu, rồi lại ghé sát ta, khẽ hỏi:
“Tiểu thư, người nói… bọn họ có đuổi theo không?”
Thuyền do một đôi vợ chồng chèo lái.
Người nam chống sào, người nữ khéo tay, biết bắt cá, cũng biết nấu cơm.
Thím nghe được đôi lời, thấy ta không trả lời, rốt cuộc không nhịn được mà cất tiếng hỏi:
“Là ai vậy?”
Tự nhiên là phụ thân ta và Thẩm Ngọc Thư rồi.
Phụ thân từ lâu đã quên mất a nương, càng không nhớ được người là dân huyện Hoài hay huyện Nghĩa.
Còn về phần Thẩm Ngọc Thư, trong lòng hắn chắc hẳn vẫn canh cánh nhớ thương Lục Diệu Âm.
Khi hay tin Lục Diệu Âm đã lấy chồng, cả người hắn lạnh băng như khối đá, sắc mặt âm u.
Hắn tự nhốt mình trong phòng, ba ngày uống rượu, ba ngày vẽ tranh, ba ngày ngủ mê.
Tới ngày thứ mười, hắn tắm rửa sạch sẽ, thay xiêm y mới, tìm đến một lò than, đem hết thảy quá khứ thiêu rụi, rồi đích thân tới tìm ta.
“Hiền Uyển, chuyện này là lỗi của hai nhà chúng ta, khiến muội phải chịu ấm ức.”
Thẩm Ngọc Thư lấy ra một chiếc vòng ngọc viền chỉ vàng.
Đó là tín vật của hôn ước năm xưa, do nhà họ Thẩm giao tận tay Lục Diệu Âm.
Trước khi nàng trốn hôn, vẫn luôn mang trên cổ tay, nay đã quay về tay họ Thẩm.
“Chuyện thành thân giữa muội và ta, không thể thay đổi.
Ta đã nói với bá phụ bá mẫu, dời hôn kỳ một năm. Một năm này là thời gian dành cho muội.”
“Nếu trong một năm ấy, ta khiến muội động lòng, sau khi thành thân ta sẽ đưa muội rời đi.
Vào kinh cũng được, ra làm quan cũng được, ta đều ở bên muội, sống chết không rời.
Nếu muội không nguyện ý, ta cũng sẽ tôn trọng, dành cho muội những gì xứng đáng.
Hiền Uyển, muội có thể cho ta một cơ hội chăng?”
Nói rồi, Thẩm Ngọc Thư lại lấy ra một chiếc vòng ngọc khác, là do chính hắn tự mình chọn lấy trước khi tới tìm ta.
Trong mối hôn sự nực cười này, phụ thân và phu nhân xem nhẹ ta, Thẩm phu nhân oán trách ta, người đời thì ghen tỵ với ta.
Chỉ có Thẩm Ngọc Thư là thật lòng nhìn thấy nỗi uất ức trong ta, đến để hỏi han tâm ý của ta.
Trước lúc a nương qua đời, thân thể người chỉ còn da bọc xương, vẫn còn nhìn ra ngoài cửa.
Người từng nói:
“Hiền Uyển, cả đời này, chỉ có khi cha mẹ còn sống, a nương mới thấy vui vẻ.
Sau này a nương không còn nữa, con nhất định phải đem lòng gửi gắm cho kẻ biết hỏi con thích hay không, người đó phải thật lòng thương con, giống như a nương từng thương con vậy.”
Bởi thế, ta đã đáp ứng, nhận lấy hai chiếc vòng ngọc ấy, đem lòng gửi gắm cho Thẩm Ngọc Thư.
Hắn đã sai, ta cũng sai.
Nhưng a nương từng dạy: khi cầm đũa ăn cơm, đã cầm lên được thì cũng phải buông xuống được.
Ta mang theo số vàng bạc mà nhà họ Lục chuẩn bị làm của hồi môn.
Mang theo ngân phiếu mà Thẩm phu nhân trao tặng.
Mang theo di vật của a nương.
Duy chỉ không mang theo hai chiếc vòng ngọc kia.
Lần này, có bạc, có Thanh Đào, có Điểm Xuân và Ô Đông.
Còn có cơm thịt muối nơi Hoài Châu, thế là đủ.
Thím nghe xong, khóc đến đỏ cả mắt, ôm chầm lấy Thanh Đào mà khóc ròng.
Khi ta xuống thuyền, thím còn vẫy tay tiễn biệt:
“Muội tử! Cứ yên tâm mà đi! Bất kể ai hỏi tới, ta đều nói chưa từng thấy muội bao giờ!
Muội phải sống cho thật tốt, nhất định phải sống cho thật tốt đó nha——”