Chương 1 - Hộp Trà Bí Ẩn
Sau khi tiểu muội lấy chồng xa đến Ổ Tê Hà, cứ mỗi dịp Cốc Vũ, muội ấy lại gửi về nhà một hộp trà trước tiết Cốc Vũ mang theo hương thơm thanh nhã.
Kèm theo đó là một phong gia thư.
Từ “lang quân kính ta”, viết đến “con cái quấn gối”.
Muội ấy còn nói nơi mình ở có sân viện sát mặt nước, đẩy cửa sổ ra là có thể nhìn thấy hoa trà nở đầy núi.
Nay A nương trước lúc lâm chung muốn gặp muội ấy thêm một lần.
Ta bèn theo thương đội chở trà đi về phương nam.
Đến bến cũ, người lái đò lại không chịu đi tiếp.
Ông ấy nói mười năm trước có một trận lũ núi, Ổ Tê Hà cùng cả ngọn trà sơn đã chìm xuống đáy sông từ lâu.
Nhưng tiểu muội xuất giá rõ ràng là chuyện của tám năm trước.
Ta mở phong gia thư năm nay đang cất trong ngực ra.
Cuối thư, muội ấy vẫn viết:
“Năm nay mưa thuận, hoa trà ngoài cửa sổ nở còn rực rỡ hơn mọi năm.”
01
Ta siết phong thư trong tay, đứng ở bến đò rất lâu.
Phản ứng đầu tiên của ta là người lái đò nhớ nhầm.
Nhìn ông ấy ít nhất cũng phải sáu mươi, lưng đã còng xuống, trong miệng còn thiếu hai chiếc răng.
Chuyện mười năm trước hay tám năm trước, nhớ lệch hai năm cũng chẳng có gì lạ.
Ta bèn hỏi lại một lần:
“Lão bá, ngài nghĩ kỹ lại xem.
“Có phải Ổ Tê Hà sau đó đã chuyển sang nơi khác không? Hoặc gần đây còn có một thôn khác trùng tên?”
Người lái đò đang thu dây neo, nghe vậy liền quay đầu nhìn ta.
“Cô nương, năm nay ta ba mươi bảy.”
Ta sững người.
Ông ấy đẩy chiếc nón tre lên, lộ ra gương mặt rám nắng.
Chỉ vì tóc ông bạc quá nhiều nên ta mới nhìn lầm tuổi.
“Mười năm trước lúc xảy ra lũ, ta hai mươi bảy, sống ở đầu đông của Ổ Tê Hà.
“Đêm ấy nước dâng quá nhanh, ta cõng mẹ bơi ra được, còn thê tử cùng đứa con trai vừa mới biết đi thì không ra được.”
Ông ấy nói rất bình thản, như thể chỉ đang kể hôm qua mình ăn món gì.
Ta lại không thể hỏi ông ấy có phải nhớ nhầm nữa.
Người lái đò buộc dây thuyền xong, hất cằm về phía bờ sông.
“Nếu cô vẫn không tin thì đi theo ta.”
Từ bến cũ đi xuống có một đoạn bậc đá xanh những năm nay có lẽ ít người qua lại, trong kẽ đá mọc đầy rêu.
Ta giẫm theo dấu chân ông ấy đi xuống, càng đi càng gần mép nước.
Cuối cùng, ông dừng trước một cột đá nghiêng lệch.
Cột chỉ lộ ra nửa đoạn, phần còn lại ngâm dưới nước.
Chữ khắc bên trên đã bị nước mài đến mờ nhòe, ta ngồi xổm xuống dùng tay áo lau hồi lâu mới nhận ra ba chữ——
【Ổ Tê Hà.】
Bàn tay ta lập tức cứng đờ.
Người lái đò nói trước kia đây là đường vào Ổ.
Đi theo bậc đá lên, ba dặm nữa là chợ trà, đi sâu vào trong chính là trà sơn.
Mỗi năm trước sau tiết Cốc Vũ, trên núi đâu đâu cũng là người hái trà, bến đò từ khi trời chưa sáng đã ồn đến mức người ta không ngủ nổi.
Mười năm trước, trận mưa ấy kéo dài bảy ngày bảy đêm.
Núi sạt, dòng sông cũng đổi hướng.
Đợi nước rút, chợ trà, nhà dân, từ đường… tất cả đều không còn.
Thứ đang ngâm dưới đáy nước bây giờ chính là Ổ Tê Hà.
Ta nhìn mặt sông vàng đục, nhất thời cảm thấy ngực nghẹn đến khó chịu.
02
Trước khi ta rời nhà, A nương đã không còn xuống giường nổi.
Người bệnh đến nửa bát cháo loãng cũng nuốt không nổi, vậy mà vẫn gắng gượng bảo ta mang chăn đệm ở phòng đông ra phơi.
“Tiểu muội con thích sạch sẽ.”
Người nằm trên ghế tre thở hổn hển, vừa chỉ huy ta lật mặt chăn, vừa lẩm bẩm:
“Phơi cho mềm xốp một chút, nó về mới ngủ ngon.”
A nương còn bảo ta mang theo một vò măng xuân do chính tay người muối nói khi còn nhỏ tiểu muội rất ham ăn, cháo trắng trộn măng thái hạt lựu, một bữa có thể ăn hai bát.
Vò măng ấy bây giờ vẫn ở trong hành lý của ta, dọc đường ta sợ va vỡ, đến ngủ cũng ôm trong ngực.
Nhưng bây giờ, có người nói với ta——
Tiểu muội của ta, người sống ở Ổ Tê Hà, có sân viện sát nước, đẩy cửa sổ ra là nhìn thấy hoa trà đầy núi, trước khi muội ấy gả đến đó hai năm thì nơi ấy đã không còn nữa.
Ta cúi đầu, lại đọc gia thư năm nay một lượt.
Giấy trắng như tuyết, chữ cũng đúng là chữ của tiểu muội.
Từ nhỏ muội ấy đã viết chữ “mưa” không đẹp, bốn chấm dưới cùng lúc nào cũng chen sát vào nhau như bốn hạt vừng.
Khi A phụ còn sống từng không ít lần dùng thước gõ tay muội ấy, vậy mà sửa thế nào cũng không được.
Chữ “mưa” trong thư vẫn y như vậy.
Càng nhìn, trong lòng ta lại sinh ra một chút may mắn mong manh.
Có lẽ muội ấy chỉ sống ở nơi khác.
Ta vội nói với người lái đò, cũng như đang tự khuyên mình.
“Tổ tiên nhà phu quân muội ấy vốn là người Ổ Tê Hà, sau khi dời đi vẫn dùng tên cũ cũng có thể. Trên thư viết Ổ Tê Hà chỉ vì gọi quen rồi.”
Người lái đò không tranh cãi với ta.
Ông ấy chỉ nhìn thương đội sau lưng ta, hỏi: “Trà của cô là do họ đưa tới?”
“Phải.”
Suốt tám năm, cứ đến Cốc Vũ đều là thương đội trà này chở hàng từ phương nam lên huyện chúng ta, tiện thể mang trà của tiểu muội đến nhà ta.
Vì chuyến đi này, ta còn cố ý chờ họ nửa tháng.
Người lái đò gật đầu.
“Vậy cô hỏi bọn họ đi.”
Ta quay đầu lại.
Người dẫn đầu thương đội vốn đang ngồi xổm bên đường gặm bánh khô, thấy ta nhìn sang, hắn đến bánh cũng không nhai nữa.
Một lúc lâu sau mới chậm rãi đứng dậy.
“Cô nương.”
Hắn phủ vụn bánh trên tay.
“Có một chuyện… trước đây ta cứ tưởng cô biết.”
Không hiểu sao, ta bỗng không muốn nghe tiếp nữa, nhưng vẫn hỏi: “Chuyện gì?”
Hắn gãi đầu.
“Trà nhà cô nhận suốt tám năm nay không phải thu từ Ổ Tê Hà.”
03
Nhất thời ta không hiểu.
“Ý gì?”
Người dẫn đầu thương đội vội xua tay.
“Cô đừng vội. Trà đúng là trà ngon, bọn ta chưa từng lấy trà cũ lừa nhà cô.”
“Ta hỏi không phải chuyện này.”
Ta đưa hộp trà trong ngực đến trước mặt hắn, “Rốt cuộc trà này từ đâu mà có?”
Hắn nhìn một cái rồi thở dài.
Sau đó đưa tay nhón một ít lá trà, đặt trong lòng bàn tay vò nhẹ.
“Đây là trà Bạch Thạch Lĩnh.”
Bạch Thạch Lĩnh nằm cách bến cũ hơn bốn mươi dặm về phía đông.
Trên đường đi về nam, ta còn từng đi ngang nơi ấy, khắp núi đều là vườn trà.
Người dẫn đầu thương đội nói với ta, trước khi Ổ Tê Hà bị ngập, trà nơi đó thật ra không tính là hạng thượng phẩm.
Được cái sát sông, sương dày, búp trà non, khi pha lên hơi đắng, nuốt xuống hồi lâu mới có vị ngọt hậu.
Nhưng Bạch Thạch Lĩnh thì khác.
Đất ở đó lẫn nhiều cát đá, vị trà thanh, vừa vào miệng đã có vị ngọt.
Người làm nghề trà mấy chục năm chỉ cần uống một ngụm là phân biệt được.
“Mấy hộp nhà cô nhận được đều là trà trước tiết Cốc Vũ của Bạch Thạch Lĩnh.”
Hắn vừa nói vừa có vẻ khó hiểu.
“Ta vẫn luôn tưởng cô biết.”
“Ta biết cái gì?”
“Vốn dĩ đây chỉ là trà người khác nhờ bọn ta mang hộ.”
Thì ra trước khi thương đội này đi về phương bắc mỗi năm đều sẽ ngang qua trấn Bạch Thạch.
Trong trấn có một tiệm trà lâu năm, tiệm sẽ chuẩn bị sẵn một hộp trà mới, kèm theo một phong gia thư đã niêm kín, rồi giao cả cho họ.
Chương 2
Trên đó viết địa chỉ nhà ta, tiền công vận chuyển cũng đã có người trả sẵn, họ chỉ việc mang lên phương bắc.
Ta nghe mà tay chân lạnh ngắt.
“Ai giao cho tiệm trà?”
Người dẫn đầu thương đội lắc đầu.
“Chuyện này ta không rõ.
“Mỗi năm bọn ta qua tay mấy trăm mấy ngàn cân trà, tiện tay giúp người khác mang thư, mang chút đồ là chuyện thường.
“Lần đầu ta đưa trà đến nhà cô, chưởng quầy tiệm trà đã nói đây là lời dặn của một khách quen cũ.”
“Tám năm, năm nào cũng vậy?”
“Năm nào cũng vậy.”
Ta cúi đầu nhìn hộp trà trong tay, góc hộp còn dính một chút vụn trà.
Vì sợ hương trà bay mất, mỗi lần nhận được A nương đều không nỡ mở nhiều, thường chỉ bốc một nhúm nhỏ pha lên, cả nhà mỗi người chia nửa chén, phần còn lại lại cẩn thận niêm kín.
Người luôn nói: “Đây là mùa xuân bên tiểu muội con.”
Tám năm.
Thứ A nương không nỡ uống hết căn bản không phải trà của Ổ Tê Hà.
Ta bỗng thấy khó thở.
“Đi trấn Bạch Thạch.”
Ta gấp thư lại nhét vào ngực áo.
“Đi ngay bây giờ.”
Người dẫn đầu thương đội nhìn trời, mặt trời đã chếch về tây.
“Hơn bốn mươi dặm đấy, đuổi đến nơi thì cổng thành cũng khóa rồi. Hay là sáng mai——”
“A nương ta còn đang ở nhà chờ.”
Ta cắt ngang lời hắn.
Lúc giọng bật ra, chính ta cũng giật mình, khàn đến đáng sợ.
“Người không chờ nổi.”
Không ai khuyên nữa.
Thương đội dắt ra cho ta con ngựa chạy nhanh nhất.
Ta không biết cưỡi ngựa, chỉ có thể ôm chặt cổ ngựa, để người dẫn đầu thương đội nắm dây cương kéo đi.
Chưa xóc được mười dặm, chút lương khô trong bụng ta đã nôn sạch.
Nôn xong lại tiếp tục đi.
Trước kia ta sợ nhất ngồi xe chạy nhanh.
Hồi nhỏ cùng tiểu muội đi hội miếu, xe bò chỉ cần đi nhanh một chút, ta đã ôm muội ấy kêu la, nói ruột gan sắp bị xóc đứt rồi.
Tiểu muội liền cười ta vô dụng.
Muội ấy gan lớn hơn ta.
Dám trèo cây, dám xuống sông, năm mười hai tuổi còn từng lén cưỡi con la nhà hàng xóm, ngã đến nửa mặt lấm đầy bùn, về nhà bị A nương đuổi đánh ba con phố.
Nghĩ đến đây, mắt ta cay xè, vội cúi đầu xuống.
Ta không thể nghĩ lung tung, tiểu muội chỉ chuyển nhà, trà cũng chỉ nhờ người khác mua hộ.
Ổ Tê Hà không còn không có nghĩa người cũng không còn.
Trên đời còn có người giàu thích đặt tên nhà mình là “sơn cư”, “thủy tạ”, rõ ràng trước cửa đến một vũng nước cũng chẳng có.
Biết đâu nhà muội phu cũng có cái tật ấy.
Dọc đường ta nghĩ ra bảy tám lý do cho họ.
Đến lúc đuổi tới trấn Bạch Thạch, chân ta đã tê đến mức chẳng còn cảm giác.
Tiệm trà vừa chuẩn bị đóng ván cửa, người dẫn đầu thương đội đứng cách nửa con phố đã hét lên:
“Chưởng quầy! Khoan đóng!”
Sau quầy ló ra một cái đầu tóc bạc.
Lão nhân nhận ra hắn, cười mắng:
“Gấp như đòi mạng thế làm gì? Hàng năm nay chẳng phải đã giao cho ngươi rồi sao?”
Bước chân ta lập tức dừng lại.
“Hàng năm nay” chính là hộp đang nằm trong ngực ta.
Ta vịn khung cửa đi vào.
“Lão bá, ta muốn hỏi, trà này là ai nhờ ngài gửi?”
04
Chưởng quầy tiệm trà hơi nghễnh ngãng, ta hỏi liền hai lần ông mới nghe rõ.
Sau đó, ông nheo mắt nhìn ta, lại nhìn chiếc hộp trong tay ta.
“Đến từ phương bắc?”
Ta gật đầu.
Ông không thoái thác, chỉ bảo ta chờ, còn mình quay người đi vào gian trong.
Tiệm trà rất nhỏ, sát tường đặt mấy chiếc nia tre, trong góc kê một chảo sắt lớn để sao trà, đáy chảo vẫn còn hơi ấm, trong phòng đầy mùi trà mới được rang qua lửa.
Ta đứng bên trong, ngửi mà lòng càng hoảng.
Không lâu sau, chưởng quầy ôm ra một quyển sổ sách.
Sổ rất dày, bốn góc đều đã sờn xơ.
Ông đeo kính lão, thấm nước bọt lật mấy trang, cuối cùng dừng ở một trang.
“Đây.”
Ta vội ghé lại.
Trang giấy ấy đã ố vàng, phía trên cùng ghi chuyện tám năm trước, chỉ vài dòng.
【Một hộp trà trước tiết Cốc Vũ, gửi đến phương bắc…】
Bên dưới là địa chỉ nhà ta.
Không sai một chữ.
Tiếp về sau, cứ cách một năm lại có một khoản giống hệt.
Trà đều một hộp, đóng trước tiết Cốc Vũ, địa chỉ cũng luôn là một nơi.
Ta lần theo mấy dòng năm tháng ấy nhìn xuống.
“Ai đến đặt?”
Chưởng quầy nhíu mày nghĩ một lúc.
“Là một nam nhân trẻ tuổi.”
“Trông thế nào?”
“Đã tám năm rồi, còn nhớ sao nổi.”
Ta sốt ruột đến lòng bàn tay toát mồ hôi.
“Vậy năm nào hắn cũng đến?”
Chưởng quầy ngẩng đầu nhìn ta, “Năm nào?”
Vẻ mặt ông hơi kỳ lạ.
“Ai nói với cô hắn năm nào cũng đến?”
Ta sững sờ.
Chưởng quầy lật sổ lên trước một trang, ngón tay chỉ vào bên cạnh dòng tám năm trước.
Ở đó còn có một hàng chữ nhỏ, khi nãy lòng ta hoảng loạn nên lại không nhìn thấy.
【Tiền trà mười năm, thanh toán một lần.】