Chương 5 - Dòng Máu Của Kẻ Đào Binh
Xe chạy nửa tháng thì đến Lạc Dương. Mẹ chồng ta cả đời bị nhốt trong hậu trạch, chỉ thấy mẫu đơn qua tranh vẽ. Khi ta đưa bà vào vườn mẫu đơn, đứng giữa biển hoa, nhìn những đóa hoa to như bát, lớp lớp nở rộ, bà chợt đứng sững lại.
“Ta sống bốn mươi bảy năm…” Bà nghẹn ngào, “lần đầu biết thế giới bên ngoài rộng lớn nhường này.”
Bà đứng trong vườn rất lâu. Ta và chú Chu cũng không vội, ngồi chờ ở quán trà ngoài vườn. Khi bước ra, mắt bà vẫn đỏ, nhưng thần thái đã khác hẳn.
Chúng ta ở Lạc Dương năm ngày, rồi đi Dương Châu. Trên sông Thước Tây, bà học chèo thuyền với cô lái thuyền, cú đầu tiên suýt chút nữa làm bà ngã nhào xuống hồ, khiến cô lái thuyền mặt cắt không còn giọt máu. Còn bà thì bám lấy mạn thuyền cười ha hả.
Ta ngồi đầu thuyền, nhìn bà cười ngả nghiêng, chợt nhớ lại dáng vẻ bà tụng kinh trong Phật đường Cố phủ kiếp trước. Khi đó bà luôn cúi đầu, lưng hơi khom, giọng nói nhẹ và chậm, như sợ làm phiền ai đó. So với người cười không chút kiêng dè lúc này, đúng là hai người khác nhau.
Từ Dương Châu, chúng ta đến Kim Lăng. Bà dành ba ngày đi dạo các xưởng thêu. Tô thêu, Tương thêu, Vân thêu, Thục thêu, bà xem từng nhà một, bàn luận kỹ thuật, phối màu, đường kim với các thợ thêu. Vốn dĩ tay nghề thêu của bà cực tốt, bàn luận rất am tường, có mấy thợ thêu còn muốn bái bà làm sư.
Bà đỏ mặt xua tay nói “không dám, không dám”, nhưng quay sang thì thầm với ta đầy tự hào: “Tuế Ninh con nghe thấy không? Họ muốn bái ta làm sư đấy!”
Ngày cuối cùng ở Kim Lăng, bà học được một kỹ thuật mới — thêu loạn chỉ. Về khách sạn, bà hì hụi nghiên cứu nửa đêm, sáng hôm sau với hai quầng thâm mắt, hưng phấn giơ khung thêu cho ta xem.
“Học được rồi!”
Trên khung là một đóa mẫu đơn, cánh hoa lớp lớp, màu chuyển từ hồng nhạt sang đỏ sẫm, đường kim dày đặc gần như không thấy vết nối. Ta nhìn hồi lâu, chợt thấy mũi cay cay. Kiếp trước tay nghề bà cũng tốt thế này, nhưng chỉ có thể trốn trong viện hẻo lánh mà thêu. Hơn nữa, những món đồ thêu xong đều bị Triệu thị lấy mất, mạo danh là mình thêu để đem tặng các quý phu nhân ở kinh thành làm quà.
Giờ đây, cuối cùng bà đã tự do.
10.
Đi dạo Giang Nam hơn nửa năm, cuối cùng chúng ta định cư tại Tô Châu. Mua một căn nhà nhỏ hai sân trên đường Bình Giang, sát bờ sông, tinh tế và yên tĩnh. Chúng ta mua thêm hai cửa tiệm, một tiệm lụa, một tiệm bánh.
Quản lý tiệm lụa là Thẩm thúc, người Tô Châu, làm nghề hơn hai mươi năm, thật thà chất phác, ta bàn bạc nửa canh giờ là chốt xong. Quản lý tiệm bánh là một góa phụ họ Ngô, một mình nuôi hai con, tay nghề làm bánh tuyệt hảo. Tiệm không cần chúng ta lo lắng, mỗi tháng đều có khoản thu nhập ổn định.
Ta quản lý sổ sách, lúc rỗi rỗi đọc sách, học cách kinh doanh từ Thẩm thúc, thỉnh thoảng ghé tiệm bánh giúp Ngô nương tử nếm thử món mới. Ngày tháng trôi qua thong thả nhưng đầy đủ.
11.
Mẹ chồng ta hoàn toàn mê mẩn Tô thêu. Bà kết hợp kỹ thuật thêu loạn chỉ học ở Kim Lăng với lối thêu truyền thống của Tô Châu, sáng tạo ra một phương pháp thêu mới. Hoa chim thêu theo cách này sống động như thật, nhanh chóng truyền khắp thành Tô Châu.
Các quý phu nhân xếp hàng đặt hàng, một bức bình phong thêu có thể bán tới hàng trăm lượng bạc. Một buổi tối nọ, chúng ta ngồi bên cửa sổ sát sông uống trà. Mẹ chồng chợt hỏi: “Tuế Ninh, con nói xem con người một đời, rốt cuộc cầu mong điều gì?”
Ta suy nghĩ rồi đáp: “Chắc là cầu một chữ Tự Tại thôi ạ.”
Bà im lặng một lúc, gật đầu.
“Nữ nhi phải hiền lương thục đức, giúp chồng dạy con, nhẫn nhục chịu đựng… Mẹ ta dạy ta vậy, tổ mẫu ta dạy ta vậy, tất cả mọi người đều dạy ta như thế.”
“Còn bây giờ thì sao?” Ta hỏi.
Bà quay sang nhìn ta, mỉm cười.
CHƯƠNG 6 – ẤN ĐỂ ĐỌC TIẾP: