Chương 1 - Cuộc Đời Bị Định Mệnh Khóa Chặt
Hầu phủ có ba nữ nhi, Quốc sư phê mệnh: Một nữ làm Hậu, một nữ làm Tướng, một nữ làm ‘Xướng’.
Đại tỷ nay đã là Thái tử phi, ngày mẫu nghi thiên hạ đã gần kề.
Nhị tỷ tay nắm mười vạn hùng binh Tái Bắc, uy chấn biên ải.
Còn ta, từ nhỏ đã bị khóa kín nơi khuê phòng sâu thẳm, ngay cả cổng phủ cũng không được bước ra.
Phụ thân nói, đó là muốn tốt cho ta.
Cho đến năm mười lăm tuổi, ông đích thân đưa ta vào một viện tử bí mật nhất chốn kinh thành.
Trên tấm biển treo trước cửa, đề ba chữ.
01
Ta đứng trước cánh cửa viện sơn son ấy, chân tay lạnh toát.
Gió đầu xuân vẫn còn mang theo hơi lạnh, thổi hai ngọn cung đăng bọc lụa trắng trước cửa khẽ đung đưa.
Xe ngựa của phụ thân đã đi xa.
Ông thậm chí không hề ngoảnh đầu lại.
Ta ngẩng lên, nhìn tấm biển chữ vàng nền đen.
“Thừa Hoan Điện.”
Ba chữ ấy, tựa như ba thanh đao, ghim chặt vào mười lăm năm cuộc đời ta.
Ta rốt cuộc cũng hiểu rồi.
Lời phê mệnh của Quốc sư năm xưa, không sai một chữ.
Đó là chuyện của năm ta mười tuổi.
Quốc sư giá lâm Hầu phủ, nói muốn đích thân phê mệnh cho ba vị tiểu thư.
Cả Hầu phủ chấn động.
Mẫu thân sai người thay cho ba tỷ muội ta những bộ xiêm y lộng lẫy nhất, đích thân dẫn chúng ta quỳ hầu ngoài Phật đường.
Quốc sư là một lão giả râu tóc bạc phơ, nhưng đôi mắt lại sáng rực đến đáng sợ.
Ông liếc nhìn Đại tỷ Thẩm Khuynh Nguyệt.
“Kẻ này, phượng nghi thiên thành, đáng mang mệnh Nhất quốc chi hậu.”
Mãn đường rộ lên tiếng hoan hô.
Mẫu thân cười đến trào cả nước mắt.
Ông lại nhìn sang Nhị tỷ Thẩm Khuynh Sương.
“Kẻ này, sát khí nhập mệnh, đáng nắm giữ trăm vạn binh quyền.”
Phụ thân vỗ tay cười lớn.
“Tốt! Tốt! Quả không hổ là nữ nhi Thẩm gia ta!”
Rồi, ánh mắt Quốc sư dừng lại trên người ta.
Năm ấy ta mới mười tuổi, chưa hiểu thế nào là sợ hãi.
Ta mở to đôi mắt nhìn ông, thậm chí còn mỉm cười với ông.
Sắc mặt ông đột nhiên thay đổi.
Trầm mặc rất lâu.
Lâu đến mức không khí cả Phật đường dường như ngưng đọng.
“Kẻ này…”
Ông khựng lại, giọng trầm xuống.
“Đáng kiếp làm xướng.”
Khoảnh khắc ấy, ta thấy nụ cười trên môi mẫu thân nháy mắt đông cứng.
Phụ thân hoắc mắt đứng dậy, giọng nói run rẩy:
“Quốc sư! Chuyện… chuyện này sao có thể?!”
Quốc sư nhắm mắt, khẽ lắc đầu.
“Thiên mệnh đã định, không thể trái nghịch.”
Ông mở mắt, nhìn thẳng phụ thân.
“Hầu gia nếu muốn bảo toàn gia tộc, cách tốt nhất là cấm túc thứ nữ này trong phủ, vĩnh viễn không cho gặp người ngoài.”
“Bằng không…”
Ông không nói tiếp.
Nhưng hai chữ “bằng không” ấy, còn đáng sợ hơn bất kỳ lời nguyền rủa nào.
Từ ngày đó, ta bị nhốt vào một tiểu viện ở Tây uyển.
Viện tử không lớn, chỉ có ba gian phòng, một miệng giếng, một gốc hòe già.
Bức tường viện cao vút, bên trên rải đầy mảnh sứ vỡ.
Phụ thân nói, làm vậy là muốn tốt cho ta.
Ông nói, lời phê mệnh của Quốc sư thiên hạ đều biết, nếu ta tùy tiện ra ngoài, sẽ bị người đời chỉ trỏ, làm nhục thanh danh gia tộc.
Ông nói, chỉ cần ta ngoan ngoãn ở trong viện, đợi vận mạng của hai vị tỷ tỷ ứng nghiệm, đoạn phê mệnh này tự nhiên sẽ qua đi.
Ta đã tin.
Năm ấy, ta mười tuổi.
Năm mười một tuổi, Đại tỷ tiến cung, được sách phong làm Thái tử phi.
Năm mười ba tuổi, Nhị tỷ tòng quân, được Bệ hạ khâm điểm làm Phó tướng Tái Bắc.
Còn ta, vẫn ở lại trong tiểu viện đó.
Mỗi ngày chỉ có một ma ma già nua đưa cơm.
Không ai nói chuyện với ta.
Không ai dạy ta đọc sách viết chữ.
Thậm chí, chẳng ai còn nhớ, ta tên là Thẩm Khuynh Tửu.
Ta cứ ngỡ chuỗi ngày này sẽ kéo dài cả đời.
Cho đến hôm nay.
Vào đúng ngày sinh thần mười lăm tuổi, phụ thân đích thân đến Tây uyển.
Ông đứng ngoài cổng viện, ngay cả bước vào cũng không.
“Khuynh Tửu, thu dọn đi, theo vi phụ đi một chuyến.”
Giọng ông bình thản, bình thản như đang nói “hôm nay thời tiết thật đẹp”.
Ta hỏi ông: “Đi đâu vậy phụ thân?”
Ông không đáp.
Chỉ quay lưng bước đi, bỏ lại một câu:
“Đến nơi mà con nên đến.”
Xe ngựa đi rất lâu.
Lâu đến mức qua khe cửa sổ, ta thấy bức tường đỏ của Hầu phủ đã bị bỏ lại tít tắp phía sau.
Xe ngựa dừng lại trong một con ngõ hẹp ở Đông thị kinh thành.
Phụ thân vén rèm xe, giọng vẫn lạnh nhạt:
“Xuống xe đi.”
Ta bước xuống, thấy một viện tử tường cao cổng kín.
Cửa viện đóng chặt, hai ngọn cung đăng lụa trắng đong đưa trong gió.
Phụ thân đưa cho ta một tay nải.
“Bên trong có chút bạc và y phục để thay.”
Ông ngừng một lát.
“Tự giải quyết cho tốt.”
Ta ngẩng lên, nhìn ông.
“Phụ thân, đây là nơi nào?”
Ông không nhìn ta.
“Rất nhanh con sẽ biết thôi.”
Nói xong, ông quay người lên xe ngựa.
Phu xe vung roi, chiếc xe ngựa rong ruổi rời đi.
Ta đứng chôn chân tại chỗ, nhìn cỗ xe khuất bóng cuối con ngõ.
Rồi, ta ngẩng đầu lên.
Nhìn thấy tấm biển kia.
Thừa Hoan Điện.
Ta không biết chữ, ma ma chưa từng dạy ta.
Nhưng ta nhận ra ba chữ này.
Bởi vì năm năm trước, vào cái đêm Quốc sư phê mệnh, mẫu thân đã quỳ khóc bên ngoài Phật đường suốt một đêm.
Bà vừa khóc, vừa mắng.
“Thừa hoan hiến mị, hầu hạ quyền quý… Đây là muốn đẩy nữ nhi của ta vào hố lửa sao!”
Khi ấy ta còn nhỏ, không hiểu “thừa hoan” nghĩa là gì.
Bây giờ thì ta hiểu rồi.
Ta siết chặt tay nải, hít một hơi thật sâu.
Cổng viện từ từ mở ra.
Một phụ nhân trang điểm lòe loẹt đứng bên trong, đánh giá ta bằng ánh mắt như đang nhìn một món hàng.
“Người mới à?”
Ta không lên tiếng.
Mụ cười khẩy:
“Thôi đi, bớt làm bộ thanh cao, vào trong.”
“Từ hôm nay, ngươi chính là người của Thừa Hoan Điện.”
Ta bước vào viện.
Sau lưng, cánh cửa sơn son đóng sập lại, nặng nề.
02
Viện tử này lớn hơn ta tưởng tượng.
Hành lang quanh co, non bộ nước chảy, đình đài lầu các, nơi nào cũng toát lên vẻ tinh xảo.
Nhưng mùi phấn sáp nồng nặc đến buồn nôn.
Phụ nhân dẫn ta vào tên là Thu ma ma, là quản sự của Thừa Hoan Điện này.
Mụ đi phía trước, vừa đi vừa nói:
“Thừa Hoan Điện là giáo phường do Bệ hạ đích thân sắc phong, chuyên bồi dưỡng nữ tử hầu hạ quyền quý.”
“Kẻ có thể vào đây, đều là người do các phủ đưa tới, hoặc là nữ quyến quan lại phạm tội.”
Mụ ngoái lại nhìn ta, ánh mắt đầy ẩn ý.
“Ngươi là người nhà nào?”
Ta mím môi, không hé răng.
Thu ma ma hừ lạnh.
“Giả câm à? Cũng được, đã vào đây rồi thì xuất thân gì cũng chẳng còn quan trọng nữa.”
Mụ dừng lại trước một căn sương phòng, đẩy cửa.
“Đây là phòng của ngươi, hôm nay cứ nghỉ ngơi trước, ngày mai bắt đầu học.”
Ta bước vào.
Phòng không lớn, một chiếc giường, một cái bàn, một tủ áo.
Cửa sổ rất nhỏ, còn bị đóng đinh song sắt.
Thu ma ma đứng ngoài cửa, lạnh lùng nói:
“Nhớ cho kỹ, Thừa Hoan Điện có ba quy củ.”
“Thứ nhất, không được bỏ trốn.”
“Thứ hai, không được phản kháng.”
“Thứ ba, không được tự sát.”
Mụ mỉm cười, nụ cười âm u như quỷ dữ.
“Vi phạm bất cứ điều nào, cả nhà ngươi sẽ phải chôn cùng.”
Nói xong, mụ đóng sầm cửa lại.
Ta nghe thấy tiếng khóa lách cách vang lên bên ngoài.
Ta ngồi trên mép giường, nhìn ô cửa sổ nhỏ nhoi.
Những thanh sắt chia cắt bầu trời bên ngoài thành từng mảnh vụn.
Giống hệt một chiếc lồng.
Ta bỗng bật cười.
Từ năm mười tuổi đến mười lăm tuổi, ta vẫn luôn ngỡ tiểu viện ở Tây uyển kia chính là chiếc lồng giam của mình.