Chương 3 - Cô Bé Mất Tích Và Người Mẹ Đã Chờ
Khi y tá đến tiêm, tôi không khóc.
Lúc bó bột, tôi cũng không khóc.
Người phụ nữ khóc còn dữ hơn cả tôi.
Bà nói: “Niếp Niếp, nếu đau thì con cứ khóc ra, đừng nhịn.”
Tôi nhìn bà, há miệng.
Vẫn không phát ra tiếng nào.
Bà sững lại một chút, quay đầu nhìn người đàn ông.
Người đàn ông hỏi bác sĩ: “Nó không biết nói, là vì nguyên nhân gì?”
Bác sĩ nói: Qua kiểm tra cơ thể thì thanh quản không có bệnh biến thực thể. Có thể là chứng mất ngôn ngữ do nguyên nhân tâm lý, từng bị kinh hoàng quá độ hoặc lâu dài ở trong môi trường áp lực, sợ hãi cao độ, một số đứa trẻ sẽ xuất hiện tình trạng này. Cần đi khám khoa tâm lý.”
Người phụ nữ ôm chầm lấy tôi, khóc đến mức cả người run bần bật.
“Niếp Niếp của mẹ đã phải chịu bao nhiêu khổ sở đây……”
Tôi bị bà ôm trong lòng, ngửi mùi trên người bà.
Không phải mùi bột giặt, mà là một mùi dành dành rất nhạt.
Thân thể bà rất gầy, xương cấn vào người.
Nhưng rất ấm.
Đêm đó, tôi ở lại bệnh viện.
Người phụ nữ ngủ ngay trên chiếc ghế chăm bệnh bên cạnh tôi.
Bà vẫn luôn nắm tay tôi, đến cả lúc ngủ cũng không buông.
Tôi mở mắt, nhìn chằm chằm ngọn đèn trắng trên trần nhà.
Đèn đã tắt, chỉ còn ánh sáng ngoài hành lang len vào từ khe cửa, vẽ trên nền nhà một vệt mảnh như sợi chỉ.
Tôi trở mình, nhìn gương mặt người phụ nữ.
Bà đã ngủ rồi, nhưng đầu mày vẫn nhíu chặt. Khóe mắt có những nếp nhăn rất sâu, khóe miệng cũng trễ xuống.
Gương mặt này đã già đi rất nhiều.
Trên thông báo tìm người có ảnh của họ. Hai người trẻ tuổi, đứng ở bờ biển, cười rất vui vẻ.
Mới năm năm thôi mà đã già đi thành thế này rồi.
Tôi khẽ rút tay ra khỏi lòng bàn tay bà.
Bà lập tức tỉnh dậy.
“Niếp Niếp? Sao vậy?”
Tôi lắc đầu, rồi lại đặt tay vào lòng bàn tay bà.
Bà nắm chặt lại, vỗ vỗ mu bàn tay tôi: “Ngủ đi, mẹ ở đây.”
Mẹ ở đây.
Ba chữ ấy như một hòn đá ném vào mặt nước, khuấy lên từng vòng từng vòng gợn sóng trong lòng tôi.
Tôi nhắm mắt lại.
Một giọt nước mắt từ khóe mắt lăn xuống, thấm vào gối.
03
Tôi ở bệnh viện ba ngày.
Cảnh sát đến hai lần.
Lần đầu đến để lấy lời khai, hỏi tôi tên gì, ở đâu, ai đánh.
Tôi không biết nói, cũng không biết viết. Tôi chưa từng đi học, một chữ cũng không nhận ra.
Cảnh sát đưa cho tôi một cây bút, bảo tôi vẽ.
Tôi vẽ một căn nhà, trong nhà có một người lớn cầm gậy, một đứa bé ngồi xổm trên đất.
Sau khi cảnh sát xem xong, sắc mặt rất khó coi.
Lần thứ hai đến, họ dẫn theo một nữ cảnh sát mặc thường phục. Cô ấy ngồi xổm trước mặt tôi, giọng điệu rất dịu dàng.
“Bé con, cháu có thể chỉ một chút, trước đây cháu sống ở hướng nào không?”
Tôi nghĩ ngợi một lát, rồi chỉ một hướng.
“Là ở trấn hay là ở thôn?”
Tôi giơ ngón tay ra, vẽ lên chăn một hình ngoằn ngoèo méo mó.
Nữ cảnh sát nhìn hồi lâu, đoán mấy lần, tôi cũng lắc đầu mấy lần.
Cuối cùng người đàn ông bước tới, đưa tờ thông báo tìm người kia cho cảnh sát.
“Làm đối chiếu ADN trước đi.”
Cảnh sát lấy mẫu máu của tôi, cũng lấy của người đàn ông và người phụ nữ.
Họ nói kết quả phải chờ một đến hai tuần.
Một đến hai tuần này là quãng thời gian khó chịu đựng nhất.
Với họ mà nói là chờ đợi.
Với tôi mà nói là sợ hãi.
Nếu ADN không khớp thì sao?
ngày hôm đó xuất viện, người phụ nữ thay cho tôi một bộ quần áo mới. Áo lông vũ màu hồng, bên trong là một chiếc áo len hoa nhỏ, quần là loại có lót bông, giày cũng là đôi ủng bông mới, vừa khít chân.
Đó là bộ quần áo đẹp nhất tôi từng mặc trong đời.
Bà còn gội đầu cho tôi, dùng lược chải từng chút một gỡ những mớ tóc rối ra.
Tóc tôi khô quắt, vàng hoe, cứ như cỏ úa.
Lúc bà chải, động tác rất nhẹ rất nhẹ, chỗ nào bị rối thì trước tiên dùng ngón tay vuốt tách ra, rồi mới dùng lược chải qua.
Mẹ kế chưa bao giờ chải đầu cho tôi.
Tóc tôi toàn tự dùng ngón tay mà vuốt, vuốt không ra thì giật, giật rụng cả nắm cũng không thấy đau.
Người phụ nữ búi cho tôi hai bím tóc nhỏ.
Giống hệt trong tấm ảnh trên tờ thông báo tìm người.
Bà búi xong, nâng mặt tôi lên nhìn trái nhìn phải, rồi cười.
Cười cười lại khóc.
“Giống, quá giống rồi. Giống hệt lúc còn nhỏ.”
Người đàn ông đứng bên cạnh cũng đang cười, vành mắt đỏ hoe.
Ông tên là Phương Kiến Quốc, ở Thai Châu mở một cửa hàng kim khí.
Bà tên là Trần Tú Lan, trước đây làm việc ở nhà máy may mặc. Sau khi con gái bị lạc, bà đã nghỉ việc, đi khắp cả nước tìm con, tìm suốt năm năm.
Năm năm ấy, bà đã tiêu sạch toàn bộ tiền tiết kiệm của gia đình, còn vay nợ bên ngoài.
Cửa hàng kim khí suýt nữa thì đóng cửa. Họ hàng, bạn bè đều khuyên họ sinh thêm một đứa, đừng tìm nữa.
Trần Tú Lan không chịu.
Bà nói sống thì phải thấy người, chết thì phải thấy xác.
Mỗi năm bà in ra mấy nghìn tờ thông báo tìm người, đi đến đâu dán đến đó. Nhà ga, bến xe, chợ rau, cổng trường, bên cạnh thùng rác.
Bên cạnh thùng rác.
Tôi chính là được nhặt trong thùng rác.
Họ lái xe đưa tôi rời bệnh viện, nói là đi Thai Châu.
“Về nhà.” Trần Tú Lan nắm tay tôi nói, “Niếp Niếp, chúng ta về nhà.”
Về nhà.
Hai chữ này tôi không hiểu lắm.
Cái sân nhà ở trấn Liễu Hà kia, là nhà sao? Chắc là không tính. Ở đó chỉ có cái tát của mẹ kế và sự im lặng của cha ruột.
Tôi không biết Thai Châu ở đâu, cách đây bao xa.
Xe chạy lên đường cao tốc.
Tôi bò ra cửa sổ nhìn ra ngoài. Thế giới bên ngoài trắng xóa một mảnh, hai bên đường cao tốc là những hàng cây trơ trụi và bầu trời xám xịt.
Trần Tú Lan ngồi bên cạnh, ôm tôi vào lòng.
Vòng tay bà có một mùi hương tôi không thể diễn tả rõ. Không phải mùi nước hoa, cũng không phải mùi thức ăn, mà là một mùi ấm áp, khiến người ta muốn dựa vào.
Xe chạy rất lâu.
Giữa đường dừng một lần ở trạm dịch vụ. Phương Kiến Quốc mua cho tôi một bát hoành thánh.
Lúc bát hoành thánh được mang lên, tôi ngẩn ra.
Cái bát màu trắng, vỏ hoành thánh mỏng manh, bên trong bọc nhân thịt, trên mặt nước dùng nổi hành lá và dầu mè.
Tôi chưa từng ăn hoành thánh.
Tôi dùng thìa múc một viên lên, cắn một miếng.
Nóng.
Nhưng ngon.
Rất ngon.
Tôi cúi đầu ăn, ăn rất nhanh, đến cả canh cũng uống sạch.
Trần Tú Lan thấy tôi ăn xong, lại đi mua thêm một bát nữa.
“Ăn từ từ thôi, đừng để bỏng.”
Tôi ngẩng đầu nhìn bà.
Bà cười, giúp tôi lau vệt canh ở khóe miệng.
Cổ họng tôi đột nhiên động một cái.
Như thể có thứ gì đó sắp từ trong cổ họng trào ra.
Nhưng vẫn không có tiếng động nào.
Ăn cơm xong thì tiếp tục lái xe.
Lúc đến Thai Châu, trời đã tối.
Xe dừng dưới một tòa nhà dân cư cũ kỹ. Sáu tầng lầu, lớp sơn tường màu xám bong tróc mất quá nửa, đèn ở hành lang lúc sáng lúc tắt.
Phương Kiến Quốc ôm tôi lên lầu.
Tầng ba, căn bên trái.
Cửa vừa đẩy ra, một mùi hương quen mà lạ ập vào.
Là mùi nhà.
Dù tôi cũng không biết nhà nên có mùi gì, nhưng tôi cảm thấy chính là mùi này.
Phòng khách không lớn, ghế sofa có hơi cũ, trên bàn trà đặt một chậu hoa nhựa. Trên tường treo một tấm ảnh phóng lớn, là ảnh của một bé gái.
Áo bông màu đỏ, hai bím tóc nhỏ, cười cong cả mắt.
Chính là tấm ảnh trên thông báo tìm người.
Trần Tú Lan đặt tôi xuống sofa, rồi quay người đi vào phòng trong.
Một lát sau bà đi ra, trong tay ôm một chiếc chăn mới tinh và một con thú bông.
Là một con thỏ màu hồng, tai rất dài.
“Đây là con thỏ con lúc nhỏ con thích nhất.” Bà đưa con thỏ cho tôi, “Trước ba tuổi, ngày nào con cũng ôm nó ngủ.”
Tôi nhận lấy, sờ thử.