Chương 14 - Cô Bé Mất Tích Và Người Mẹ Đã Chờ
Hai năm.
Mẹ kế bị phán hai năm. Trần Tú Lan biết chuyện rồi, im lặng rất lâu.
“Hai năm.” Giọng bà rất khẽ, như đang lẩm bẩm với chính mình, “Người dùng gậy nhóm lửa đánh gãy ngón tay đứa trẻ, chỉ bị phán hai năm.”
Phương Kiến Quốc nắm lấy tay bà.
“Luật pháp là như vậy, chúng ta không thay đổi được.”
“Vậy chúng ta có thể thay đổi cái gì?”
Phương Kiến Quốc nhìn bà.
“Chúng ta có thể thay đổi cuộc đời của Niếp Niếp. Chúng ta đã và đang làm điều đó rồi.”
Đêm đó tôi không mất ngủ.
Nằm trên giường, tôi nghĩ về người đàn bà đã từng đánh tôi.
Gương mặt bà ta trong ký ức đã mờ đi rồi.
Giọng nói cũng mờ đi rồi.
Chỉ còn cảm giác cây gậy nhóm lửa nện lên người là vẫn còn rõ.
Nhưng sự rõ ràng ấy không còn làm tôi sợ nữa.
Bởi vì tôi biết, cây gậy nhóm lửa đó sẽ không bao giờ đánh được tôi nữa.
Không ai có thể đối xử với tôi như thế nữa.
Tôi có cha có mẹ rồi.
Họ sẽ bảo vệ tôi.
Tháng chín khai giảng.
Nhà trường yêu cầu mỗi học sinh viết một bài văn theo chủ đề: “Người mà em biết ơn nhất”.
Phần lớn bạn học viết về cha mẹ, viết về thầy cô, viết về bạn bè.
Tôi cũng viết về Mẹ.
Nhưng tôi viết khác.
Tôi viết về một người phụ nữ trong đêm tuyết đã dán giấy tìm người khắp cả nước. Viết về việc bà đã chạy qua hơn hai mươi tỉnh, ngồi vô số chuyến tàu, rơi không biết bao nhiêu nước mắt. Viết về việc bà không từ bỏ suốt năm năm, năm năm không ngủ yên được một giấc.
Viết về việc bà nghe thấy tiếng hô hấp của tôi qua đầu dây điện thoại là khóc thành người lệ rồi.
Viết về lúc bà tắm cho tôi, khăn mặt chạm vào vết sẹo trên lưng tôi, bà khựng lại, một giọt nước mắt rơi lên da tôi, còn nóng hơn cả nước tắm.
Viết về lúc nửa đêm bà ngồi bên giường tôi, nắm tay tôi, nói “Mẹ ở đây”.
Đoạn cuối cùng tôi viết là——
“Mẹ con không phải là người mẹ đẹp nhất, cũng không phải người mẹ giàu nhất. Nhưng mẹ là người mẹ không bỏ cuộc nhất trên thế giới này. Mẹ đã tìm thấy con trong hàng chục nghìn tờ thông báo tìm người, giống như mò kim đáy biển. Con không biết mẹ đã làm được điều đó như thế nào. Nhưng con biết, chính vì mẹ không bỏ cuộc, nên con mới còn sống.”
Thầy Tôn đọc xong bài văn này, ngồi trong văn phòng rất lâu.
Sau đó, thầy đem bài văn này giới thiệu cho báo 《Thai Châu Vãn Báo》.
Báo đã đăng.
Tiêu đề là 《Tôi được mẹ nhặt về từ thùng rác》.
Dùng tên giả.
Nhưng ai trong nhà quen chúng tôi đều biết là ai.
Ngày tờ báo đăng bài, Trần Tú Lan đọc xong thì ôm tờ báo khóc rất lâu.
“Con nhóc này, viết mẹ thành……”
Bà nói không nổi nữa.
Phương Kiến Quốc ở bên cạnh đưa khăn giấy.
“Được rồi được rồi, đừng khóc nữa, xem con gái em viết hay biết bao.”
Bà nội đeo kính lão, đọc bài đó ba lượt.
Đọc đến đoạn cuối, bà tháo kính lão xuống, dùng tay áo lau mắt.
“Cháu gái tôi là đứa có lương tâm.”
19
Năm 2005.
Tôi đã mười bốn tuổi.
Học lớp hai trung học cơ sở, học ở Trường Trung học số Một khu Hoàng Nham.
Thành tích nằm trong top hai mươi của khối. Bức tranh đoạt giải nhì cấp tỉnh. Bài văn thường được thầy giáo ngữ văn lấy ra đọc làm văn mẫu.
Tôi cao hơn rồi, người gầy, tóc cũng để dài, buộc thành đuôi ngựa. Ngón trỏ tay phải vẫn hơi cong, duỗi thẳng hoàn toàn có chút khó khăn, nhưng không ảnh hưởng đến việc viết chữ và vẽ tranh.
Giọng nói đã cơ bản hồi phục, chỉ là nói nhiều sẽ bị khàn.
Diệp Tiểu Đường vẫn là bạn thân nhất của tôi. Cô bé đã lớn thành một cô bé mập mạp, giọng còn rất to, cười một tiếng là cả hành lang đều nghe thấy.
Răng cửa của Hứa Chí Viễn đã mọc đều, chiều cao vọt lên một mét bảy lăm, trở thành trụ cột của đội bóng rổ trường.
Ba chúng tôi cùng lớn lên, từ tiểu học đến trung học cơ sở, như hình với bóng.
Mùa xuân năm đó, bản án chung thẩm của tên buôn người Lưu An đã được tuyên xuống.
Tử hình, hoãn thi hành án hai năm.
Không bị xử ngay lập tức.
Phương Kiến Quốc nghe tin xong, đứng trên ban công suốt một tiếng đồng hồ.
Lúc quay vào, anh nói với Trần Tú Lan: “Hoãn thì hoãn vậy. Ít nhất đời này hắn cũng không ra ngoài được nữa.”
Trần Tú Lan không nói gì.
Bà ngồi trước bàn, trước mặt trải một chồng tờ thông báo tìm người mới nhận được.
Mấy năm nay, bà đã giúp mười một gia đình tìm được những đứa trẻ bị bắt cóc.
Mười một.
Còn nhiều người nữa vẫn chưa tìm thấy.
Từ một người mẹ bình thường, bà đã trở thành một tình nguyện viên chống bắt cóc khá có tiếng ở địa phương Thai Châu. Rất nhiều bậc cha mẹ không tìm được con đều sẽ vòng vo liên hệ với bà, cầu xin giúp đỡ.
Trong điện thoại của bà lưu hơn hai trăm số điện thoại của cha mẹ những đứa trẻ mất tích.
Mỗi số điện thoại phía sau đều là một gia đình tan vỡ.
Đôi khi tôi sẽ giúp bà sắp xếp tài liệu.
Nhập thông tin trên tờ thông báo tìm người vào máy tính — Phương Kiến Quốc bỏ ra mấy nghìn tệ mua một chiếc máy tính Lenovo, chuyên để cho Trần Tú Lan dùng.
Tên, tuổi, thời gian mất tích, địa điểm mất tích, đặc điểm ngoại hình.
Từng dòng từng dòng gõ vào.
Mỗi lần gõ thêm một dòng, trong lòng lại nặng thêm một phần.
Mùa hè năm ấy, tôi đã đưa ra một quyết định.
Tôi muốn viết câu chuyện của mình ra.
Viết một cách đầy đủ.
Từ lúc đi lạc trong công viên, đến khi bị bán tới trấn Liễu Hà, đến lúc nhặt được tờ thông báo tìm người trong thùng rác, đến khi gọi được cuộc điện thoại đó, đến khi được tìm về.
Tất cả.
Tôi đem ý nghĩ này nói với Trần Tú Lan.
Bà im lặng một lúc.
“Con chắc chứ?”
“Chắc ạ.”
“Viết ra sẽ có rất nhiều người nhìn thấy. Quá khứ của con, những vết sẹo đó, đều sẽ bị nhìn thấy.”
“Con biết.”
“Con không sợ à?”
Tôi nghĩ một lát.
“Sợ. Nhưng con thấy nên để nhiều người nhìn thấy hơn. Vẫn còn những đứa trẻ chưa được tìm thấy, bố mẹ chúng vẫn đang trên đường tìm con. Nếu câu chuyện của con có thể khiến một người liếc nhìn đứa trẻ bên cạnh mình thêm một lần, vậy là đủ rồi.”
Trần Tú Lan nhìn tôi, mắt bà đỏ hoe.
“Con lớn thật rồi.”
Tôi đã dùng cả mùa hè để viết bài viết đó.
Viết rồi sửa, sửa rồi viết.
Có những đoạn vừa viết vừa khóc, lau khô nước mắt rồi tiếp tục viết.
Có những đoạn viết đến mức tay run lên, hít sâu mấy lần rồi viết tiếp.
Viết về những ngày ở trấn Liễu Hà, viết về cái tát của mẹ kế và cây củi nhóm lửa, viết về bóng tối trong căn phòng củi và vết máu trên rơm khô.
Viết về đêm đông trong thùng rác đó, viết về cô bé mặc áo bông đỏ trên tờ thông báo tìm người.
Viết về đồng xu năm hào ném vào điện thoại công cộng.
Viết về người phụ nữ đầu dây bên kia khàn giọng gọi “Niếp Niếp”.
Viết về bát mì canh gừng đầu tiên, bộ quần áo mới đầu tiên, lần đầu tiên được ôm, lần đầu tiên nghe thấy “Mẹ ở đây”.
Viết về từ đầu tiên tôi thốt ra: Mẹ.
Đêm hôm viết xong, tôi một mình ngồi trước bàn học, nhìn chồng bản thảo dày đặc kín chữ.
Hơn một vạn chữ.
Mười bốn năm cuộc đời, bị nén lại thành hơn một vạn chữ.
Rất nhiều thứ không thể viết ra, còn những gì viết được cũng chỉ là phần nổi của tảng băng chìm.
Nhưng vậy là đủ rồi.
Bài viết được gửi cho biên tập của báo 《Thai Châu Vãn Báo》.
Biên tập gọi điện đến hỏi, dùng tên thật hay bút danh.
Tôi nói, dùng tên thật.
Phương Viên Viên.
Tên của tôi.
Sau khi bài viết được đăng, nó còn được mấy tờ báo khác đăng lại, còn có một trang web đăng toàn văn.
Thời đó Internet mới bắt đầu phát triển, tốc độ lan truyền không nhanh như bây giờ, nhưng vẫn gây ra một chút chú ý.
Có người gọi điện đến tòa soạn, nói đã đọc bài viết và rất cảm động.
Có người viết thư đến, nói mình cũng là phụ huynh của một đứa trẻ bị bắt cóc, vẫn đang tìm con.
Có một lá thư khiến tôi nhớ rất sâu.
Thư rất ngắn, viết bằng bút bi trên một tờ giấy làm bài tập, nét chữ ngoằn ngoèo méo mó.
“Chị Phương Viên Viên, em tên là Lý A Minh, năm nay mười một tuổi. Em ba tuổi đã bị người ta trộm khỏi nhà, bây giờ đang ở nhà một chú không quen. Chú ấy đánh em, không cho em đi học. Em nhặt được tờ báo đăng bài viết của chị trong đống rác. Em cũng muốn về nhà. Nhưng em không biết nhà ở đâu. Chị có thể giúp em không?”
Tôi cầm lá thư đó, tay run lên.
Trần Tú Lan xem xong, lập tức gọi điện cho tòa soạn báo.
“Lá thư được gửi từ đâu tới? Địa chỉ gửi lại là ở đâu?”
Một thị trấn nhỏ nào đó ở Quảng Tây.
Bà lại gọi điện cho đồn công an địa phương.
Một tuần sau, Lý A Minh được cảnh sát đưa đi.
Người mua cậu ta bị tạm giam.
Ba tháng sau nữa, thông qua đối chiếu ADN, tìm được cha mẹ ruột của cậu.
Ở Hồ Nam.
Ba mẹ cậu đã tìm cậu suốt tám năm.
Tám năm.
Bài báo của tôi, thật sự đã giúp được một người.
Một người giống như tôi, ngồi xổm trong bóng tối chờ ánh sáng.