Chương 4 - Chuyện Ba Năm Bên Thẩm Gia
Huyện lệnh đang bận xử lý thấp dịch, vốn không muốn quản chuyện mấy con gà vịt chết.
Ta mổ con gà, lấy cặn trong dạ dày đặt vào bát sứ trắng.
Kim bạc thả vào, rất nhanh đã chuyển đen.
“Có người dùng thạch tín độc chết gia cầm.”
“Nếu lần sau hắn bỏ độc vào giếng trong thôn, người chết sẽ không chỉ là gà vịt.”
Sắc mặt huyện lệnh lập tức nghiêm túc.
Ông sai hai nha dịch theo ta đến hiệu thuốc Tế An.
Ban đầu Mã Phúc còn muốn chối.
Nha dịch lại tìm được nửa gói thạch tín trong hậu viện, còn tìm được dưới bếp một đôi giày dính loại bùn giống hệt chuồng gà nhà ta.
Chứng vật bày ra trước mặt, chân ông ta lập tức mềm nhũn.
Thì ra sau khi huyện nha giao việc thu mua dược liệu cho ta, thuốc tồn trong kho của ông ta không bán được.
Ông ta định đầu độc gà vịt nhà ta, sau đó tung tin đồn ta mang dịch bệnh tới.
Chỉ cần thôn dân không còn tin ta, ta sẽ không thể gom đủ mẻ thuốc tiếp theo.
Huyện lệnh đánh ông ta hai mươi đại bản, niêm phong hiệu thuốc, còn phán bồi thường ta mười lượng bạc.
Tin truyền về thôn, những kẻ lúc trước bảo ta đắc tội sơn thần đều ngậm miệng.
Thím Tôn dẫn mấy hộ gia đình, trong đêm giúp ta xây tường viện cao thêm.
Ca ca còn cắm một hàng tre nhọn trên đầu tường.
“Sau này kẻ nào dám trèo vào, trước tiên để mông hắn nở hoa.”
Mẫu thân cuối cùng cũng bật cười.
Gà vịt còn sống nghỉ mấy ngày rồi dần khỏe lại.
Con gà mái thím Tôn từng ôm đến cầu ta chữa bệnh còn ấp ra mười hai gà con.
Ta cho bà sáu con.
Bà ôm giỏ tre, hiếm khi lộ vẻ ngượng ngùng.
“Trước đây ta nói không ít lời khó nghe, ngươi đừng để bụng.”
“Vậy sau này thím bớt nói vài câu là được.”
Mặt bà đỏ lên, ôm gà con chạy mất.
Chuyện thuê núi hoang cũng rất nhanh được phê chuẩn.
Huyện nha niệm tình ta cung cấp thuốc có công, mỗi năm chỉ lấy ba lượng bạc tiền thuê.
Ta thuê hơn mười tráng đinh trong thôn dọn cỏ khai hoang, lại đào một hồ trữ nước dưới chân núi.
Có người khuyên ta đừng giày vò bản thân.
“Nữ nhân kiếm được chút bạc không dễ. Lỡ trồng thuốc không sống thì sao?”
Ta sắp xếp từng tờ phương thuốc phụ thân để lại.
“Không sống thì trồng lại.”
“Dù sao cũng tốt hơn đem tính mạng mình giao vào tay người khác.”
Trước khi vào đông, lứa bạch chỉ và hoàng cầm đầu tiên được trồng xuống núi hoang.
Chuồng gà mở rộng gấp ba, vịt cũng đã có hồ để bơi.
Ca ca dùng bạc bồi thường mua một chiếc xe bò cũ.
Mẫu thân dọn căn nhà chính, ngăn riêng cho ta một gian làm phòng thuốc.
Ngày tháng từng ngày trở nên vững vàng.
Mùng sáu tháng Chạp, một đội quan sai đột nhiên vào thôn.
Người dẫn đầu cầm sổ hộ tịch của ta, đi thẳng đến cửa viện.
“Lục Ninh có ở đây không?”
Mẫu thân sợ đến mức kim chỉ rơi đầy đất.
Ta bước lên.
“Ta đây.”
Quan sai đánh giá ta mấy lượt rồi lấy trong tay áo ra công văn từ kinh thành.
“Có người tố ngươi tư tàng cấm phương trong cung.”
“Theo chúng ta đến huyện nha một chuyến.”
06
Ta bị đưa vào huyện nha thì Hồ chưởng quỹ đã quỳ dưới công đường.
Bên cạnh huyện lệnh ngồi một quan viên áo xanh chừng bốn mươi tuổi, thần sắc lạnh lùng, bên hông đeo đồng bài Giám Sát viện.
Trên án đặt số thuốc trừ thấp ta bán cho Hồ chưởng quỹ.
Bên cạnh còn có một tờ giấy cũ đã ố vàng.
Quan viên áo xanh hỏi ta:
“Phương thuốc này từ đâu mà có?”
“Gia phụ truyền lại.”
“Phụ thân ngươi tên gì?”
“Lục Viễn Sơn.”
Ông cầm tờ giấy cũ lên, đẩy đến trước mặt ta.
“Nửa năm trước, Thái y viện trong cung nhận được một phương thuốc trị dịch, người đề tên là Thẩm Từ.”
“Hắn nói đây là phương thuốc tổ truyền của Thẩm gia.”
“Nhưng phương thuốc ngươi giao cho huyện nha chỉ khác phương thuốc ấy hai vị.”
Ta nhìn chữ trên giấy.
Phương thuốc quả thật xuất phát từ tay phụ thân.
Phụ thân hành y mấy chục năm, từng nhiều lần thay đổi liều lượng qua các trận dịch.
Hai vị thuốc cuối cùng là khi ta mười lăm tuổi chép lại cho người rồi bổ sung vào.
Trên đời ngoài ta ra, chỉ có một người từng nhìn thấy phương thuốc hoàn chỉnh.
Thẩm Từ.
Trước khi lên kinh, hắn từng mắc một trận phong hàn thấp khí, ta đã dùng phương thuốc này cứu hắn.
Lúc rời đi, hắn còn mượn y thư của phụ thân.
Ta vốn tưởng hắn chỉ muốn đề phòng bệnh tật dọc đường.
Hóa ra từ khi ấy, hắn đã có mưu tính khác.
Quan viên áo xanh nhìn ta.
“Ngươi có bằng chứng chứng minh phương thuốc thuộc về Lục gia không?”
“Bản gốc không còn trong tay ta.”
Huyện lệnh nhíu mày.
“Không có bản gốc, chỉ nói bằng miệng không thể làm chứng.”
Hồ chưởng quỹ vội biện hộ cho ta.
“Lục cô nương y thuật hơn người, thấp dịch phía nam thành cũng là nhờ thuốc của nàng mới trị được.”
Quan viên áo xanh bình thản đáp:
“Biết dùng thuốc không có nghĩa phương thuốc là của nàng.”
“Thẩm Từ hiện đang nhậm chức Hàn Lâm viện, lại là con rể tương lai của Khánh An Bá phủ.”
“Nếu không có chứng cứ xác thực, bản quan không thể chỉ nghe lời từ một phía.”
Ta im lặng hồi lâu, bỗng nhớ lời phụ thân nói trước lúc qua đời.
Người sợ y thư bị mọt ăn nên từng khắc mấy phương thuốc quan trọng nhất lên ván gỗ.
Những tấm ván ấy vốn để trong hầm nhà cũ.
Sau khi ta xuất giá, mẫu thân thấy hầm ẩm nên mang ra kê chuồng gà.
“Trong nhà ta có lẽ vẫn còn mấy tấm ván cũ khắc phương thuốc.”
Quan viên áo xanh lập tức sai nha dịch theo ta về thôn.
Mẫu thân nghe rõ nguyên do, dẫn chúng ta ra hậu viện.
Dưới chuồng gà quả thật kê mấy tấm ván gỗ đã đen.
Nhưng lật hết lên cũng không thấy phương thuốc trị dịch.
Mẫu thân vỗ trán.
“Năm ngoái trời rét quá, ta lấy hai tấm mục nát nhất đốt sưởi.”
“Có khi nào chính là một trong số đó?”
Manh mối dường như lại đứt.
Nha dịch đi cùng bắt đầu lộ vẻ nghi ngờ.
“Không phải vốn chẳng có tấm ván ấy chứ?”
Ca ca tức đến siết nắm tay.
“Muội muội ta chưa bao giờ nói dối!”
Ta nhìn chuồng gà trống, cố nhớ thói quen của phụ thân khi khắc phương thuốc.
Mỗi lần khắc xong một tấm, người đều bôi dầu trẩu ở mặt sau để chống ẩm.
Gỗ từng bôi dầu trẩu khi cháy có mùi rất hắc, mẫu thân không thể hoàn toàn không nhớ.
“Nương, lúc đốt ván, người có ngửi thấy mùi lạ không?”
Mẫu thân ngẩn ra.
“Không.”
“Vậy tấm ván ấy không bị đốt.”
Chúng ta lại lục tìm khắp đống đồ cũ trong viện.
Nhà củi, nhà bếp, dưới gầm giường, tất cả đều không có.
Ca ca bỗng nhớ ra một chuyện.
“Ba năm trước, trước khi Thẩm Từ rời quê, hắn từng đến nhà mượn xe cút kít.”
“Hắn nói giúp Thẩm gia chuyển sách.”
“Lúc ấy bánh xe bị lỏng, hắn rút một tấm ván dưới chuồng gà để kê rương sách.”
Mẫu thân cũng nhớ ra.
“Tấm ấy sau đó hắn không trả.”
Ta nhắm mắt.
Bản gốc không phải thất lạc.
Nó sớm đã rơi vào tay Thẩm Từ.