Chương 6 - Chuông Đồng Tâm và Duyên Phu Thê
Hắn khựng lại.
Ta cầm khế thư lên, nhẹ nhàng phủi bụi.
“Đây là đồ của Tống gia.”
“Vốn dĩ phải trả về Tống gia.”
Ngón tay hắn dần siết chặt.
Rất lâu sau, hắn mới mở hộp gỗ.
Bên trong đặt một đôi chuông đồng tâm mới đúc.
Màu đồng sáng bóng.
Dây đỏ cũng mới tinh.
Chỉ là quá mới.
Mới đến mức không có chút hơi thở nào của năm tháng cũ.
Thẩm Ký Bạch khẽ nói:
“Ta biết đôi chuông kia đã bị chôn.”
“Nhưng ta đã đúc lại một đôi.”
Ta không nhận.
“Thẩm Ký Bạch, đôi chuông ban đầu là phụ thân ta chỉnh âm trước khi lâm chung.”
“Dây đỏ do chính tay mẫu thân ta quấn.”
“Thứ bị chôn xuống cùng nó là năm năm ta trao nhầm lòng.”
“Không phải chàng tùy tiện đúc một đôi mới là có thể thay thế.”
Ngón tay hắn run lên.
“Ta có thể tìm thợ sửa lại.”
“Sửa đến khi giống hệt trước kia.”
Ta nhìn hắn.
Đột nhiên cảm thấy mệt mỏi.
“Chàng không hiểu.”
“Chuông cưới của Tống gia định âm dựa trên hai trái tim đồng tâm.”
“Lòng đã không còn.”
“Tiếng chuông có giống đến đâu cũng chỉ là cái vỏ rỗng.”
Sắc mặt Thẩm Ký Bạch trắng bệch.
Ta lại nói:
“Hôm nay mọi chuyện chàng làm đều đúng.”
Trong mắt hắn thoáng sáng lên.
Ta bình tĩnh nói nốt:
“Đáng tiếc.”
“Mọi chuyện đều quá muộn.”
Tiểu Mãn đứng ngoài gọi:
“Cô nương, xe đã chuẩn bị xong.”
Phu nhân.
Đã biến thành cô nương.
Gọi xong, chính Tiểu Mãn cũng ngẩn người.
Ta cũng khựng một lát.
Sau đó bật cười.
“Đi thôi.”
Thẩm Ký Bạch theo bản năng bước lên.
“A Ninh.”
Ta dừng chân.
Hắn nói:
“Ta sẽ tới Đoạn Hồn Pha đào đôi chuông kia về.”
Ta quay lại.
“Ta đã nói rồi.”
“Chuông đã chôn thì đừng đào.”
Ánh mắt hắn đầy cố chấp.
“Ta không tin mệnh.”
Ta khẽ nói:
“Chàng chỉ không tin ta thật sự sẽ rời đi.”
Ngón tay hắn lập tức siết chặt.
Cạnh hộp gỗ hằn trắng vào tay.
Ta không ở lại thêm.
Khi xe ngựa rời Thẩm phủ, trời vừa tối.
Thẩm Ký Bạch đứng trước cửa.
Trong tay vẫn ôm chiếc hộp đựng chuông mới.
Gió thổi qua.
Trong hộp vang lên một tiếng chuông cực nhẹ.
Hắn lập tức ôm ngực.
Ta không quay đầu.
07
Phường chuông Tống gia đã hoang phế quá lâu.
Tường viện phủ đầy rêu xanh.
Trong lò chỉ còn tro nguội.
Trên giá gỗ treo mấy chiếc chuông hỏng.
Tiểu Mãn nhìn đến đỏ mắt.
“Cô nương, nơi này còn mở lại được sao?”
Ta xắn tay áo.
Đẩy cửa sổ gian đúc chuông ra.
Bụi bay mù trong ánh nắng, phủ đầy tay áo ta.
“Được.”
Ngày đầu tiên, chúng ta dọn lò.
Thím Đỗ dẫn hai thuyền nương khiêng chổi và thùng nước bước vào.
Giọng bà vang đến nửa con phố đều nghe thấy.
“Tống cô nương, chuyện trên sông ta quen. Giao hàng hay tìm người cứ tính cả phần ta.”
Ngày thứ hai.
Những thợ già từng làm cho Tống gia cũng trở về.
Tóc ông đã bạc quá nửa.
Đứng trước lò, ông vuốt chiếc khuôn đồng, đầu ngón tay dừng trên vết cũ ở miệng khuôn rồi thở dài.
“Thuật định âm của lão đông gia không thể tuyệt trong tay chúng ta.”
Ngày thứ ba.
Hai cô gái mồ côi từng được ta giúp đỡ cũng tới.
Một người biết ghi sổ.
Một người khéo tay, có thể quấn dây chuông.
Tiểu Mãn lén nói với ta:
“Cô nương, trước đây nô tỳ chỉ biết người từng giúp rất nhiều người.”
“Không ngờ bọn họ đều nhớ.”
Ta không nói gì.
Chỉ đổ mẻ đồng nóng đầu tiên vào khuôn.
Ánh lửa hắt đến bỏng mắt.
Chiếc chuông đầu tiên ra lò, âm thanh hơi đục.
Lão thợ cau mày.
“Miệng đồng dày rồi.”
Ta cầm búa định âm, nhẹ nhàng gõ ba lần dọc thân chuông.
Đến tiếng thứ ba.
m chuông cuối cùng cũng thoát khỏi vẻ nặng nề.
Trong trẻo vang qua bức tường viện.
Tiểu Mãn ngẩn người.
Thím Đỗ cười lớn.
“Nghe thấy chưa?”
“Chuông của Tống gia tỉnh rồi.”
Ta nhìn ngọn lửa trong sân một lần nữa cháy sáng.
Trên môi cũng xuất hiện ý cười.
Không phải thiếu phu nhân Thẩm gia tỉnh lại.
Mà là Tống Tri Ninh đã trở về.
Ngày thứ bảy.
Có người tới ép giá.
Chưởng quầy kia nhìn ta từ trên xuống dưới, cười khinh thường.
“Tống cô nương bây giờ không còn Thẩm gia chống lưng.”
“Phường chuông cũ này có chống nổi hay không còn khó nói.”
“Chi bằng bán rẻ một chút, ta giúp cô tiêu một lô hàng.”
Ta khép sổ.
“Không bán.”
Sắc mặt hắn thay đổi.
“Cô phải nghĩ cho kỹ.”
“Làm ăn của một phụ nhân đoạn duyên không dễ đâu.”
Ta bảo Tiểu Mãn tiễn khách.
Ngày hôm sau.
Xe ngựa của thương hành Bùi gia ở phủ thành dừng trước cửa phường chuông.
Người bước xuống là một nam tử trẻ tuổi, áo xanh đai ngọc, dung mạo ôn hòa nhưng cử chỉ rất dứt khoát.
Vừa vào cửa, hắn đã hành lễ với ta.
“Tống cô nương, ba năm trước thuyền Ô Thủy bị lật, may nhờ cô giúp Bùi gia thu xếp cho những thuyền công bị thương và qua đời.”
Lúc ấy ta mới nhớ ra hắn.
Thiếu đông gia của thương đội phủ thành.
Bùi Hành Chu.
Ta đáp lễ.
“Bùi thiếu đông gia nếu tới để trả nhân tình thì không cần.”
Bùi Hành Chu cười, ánh mắt rơi trên chiếc chuông An Lan mới ra lò.
“Nhân tình là nhân tình.”
“Sinh ý là sinh ý.”
Hắn lấy từ trong tay áo ra một phần khế thư, đẩy tới trước mặt ta.
“Mười ba chiếc thuyền hàng của Bùi gia tháng sau xuống nước.”
“Đều cần treo chuông An Lan.”
“Ba mươi sáu cửa hàng đồ cưới trong phủ thành cũng cần một lô chuông đồng tâm làm hàng mẫu.”
“Đồng liệu ta cung cấp.”
“Đường thủy ta phụ trách.”
“Định âm, cách đúc, hoa văn đều thuộc về Tống gia.”
“Lợi nhuận chia ba bảy.”
“Tống gia bảy.”
Ta nhìn hắn.
“Không sợ ta vừa đoạn duyên, rước phiền phức sao?”
Bùi Hành Chu bình thản.
“Ta xem chuông.”
“Cũng xem khế thư.”
“Không nghe lời đồn.”
Hắn dừng một lát rồi nói tiếp:
“Huống hồ chiếc chuông An Lan Tống gia đúc năm xưa đến nay vẫn treo trên thuyền đầu của Bùi gia.”
Lời này vững vàng hơn bất kỳ lời dễ nghe nào.