Chương 3 - Chờ Đợi Một Lễ Cưới Trọn Vẹn
Ngón tay tôi khựng lại, trực tiếp chặn toàn bộ phương thức liên lạc của Thẩm Nghiễn Chu.
Tôi xách chiếc vali dưới chân lên, vừa ngẩng đầu đã đối diện với đôi mắt mờ mịt, trống rỗng của mẹ.
Hốc mắt nóng lên, tôi cố nén tiếng khóc nói với bà:
“Mẹ đừng sợ. Từ nay năm này qua năm khác, con đều sẽ ở bên mẹ, làm đôi mắt của mẹ. Trà trên núi đến lúc hái rồi, con đưa mẹ về nhà.”
Ở phía bên kia, Thẩm Nghiễn Chu đợi rất lâu vẫn không nhận được câu trả lời của tôi.
Anh nhíu chặt mày, lại gửi thêm hai tin nhắn:
“Đừng giận dỗi nữa. Hôm nay là anh khiến em chịu ấm ức. Tuần sau anh nghỉ phép năm, anh tổ chức bù cho em một lễ cưới nữa, như vậy được chưa?”
Hai tin nhắn gửi đi chỉ đổi lại một dấu chấm than đỏ chói mắt.
Trong lòng Thẩm Nghiễn Chu cuối cùng cũng dâng lên cảm giác hoảng loạn.
Anh vội gọi điện cho y tá khoa cấp cứu:
“Giúp tôi tra xem mẹ của Giang Yểu đang nằm phòng bệnh nào?”
Y tá đầu bên kia sửng sốt:
“Thiếu tướng Thẩm không biết sao? Vì mẹ cô Giang đã bỏ lỡ thời điểm phẫu thuật tốt nhất nên cả hai mắt đã mất thị lực vĩnh viễn.”
“Cô Giang vội ra sân bay nên đã đưa mẹ xuất viện sớm. Giờ này chắc họ đã lên máy bay rồi.”
Chương 2
Loa phát thanh trong khoang máy bay nhẹ nhàng thông báo chuẩn bị hạ cánh. Tôi siết lấy bàn tay gầy guộc của mẹ, đầu ngón tay hết lần này đến lần khác vuốt những khớp xương nhô lên trên mu bàn tay bà.
Ngoài cửa sổ là những dãy núi xanh đen nối tiếp nhau. Phía dưới tầng mây là quê hương tôi đã xa cách bảy năm.
Xe lắc lư trên con đường quanh co men núi suốt nửa tiếng, cuối cùng dừng trước cổng sân nhà cũ dưới chân đồi trà.
Cây trà già trong góc sân vẫn còn đó, cành lá vươn rộng, điểm đầy những búp non căng mọng. Gió vừa thổi qua hương trà thanh đắng đã lan ra.
Mẹ tôi dò dẫm vịn lấy khung cửa, đầu ngón tay lướt trên đường vân gỗ quen thuộc, nước mắt chảy xuống khóe mắt, miệng liên tục lẩm bẩm:
“Về nhà rồi, cuối cùng cũng về nhà rồi.”
Sống mũi tôi cay xè, tôi dìu bà vào trong, dọn căn phòng đón nắng cho bà, trải chiếc chăn bông đã được phơi nắng, rồi cẩn thận cất những mảnh kính lão vỡ của bà vào hộp gỗ.
Chiếc kính vỡ không thể sửa lại, nhưng những ngày tháng đã tan vỡ, tôi sẽ tự tay ghép lại từng chút một.
Sáng hôm sau trời còn phủ một lớp sáng xám mờ, tôi đã đeo gùi tre một mình lên núi.
Sương sớm làm ướt ống quần, đầu ngón tay lướt qua những búp trà non một tôm hai lá, cảm giác ấm áp quen thuộc khiến lòng tôi chua xót.
Bảy năm trước, vì chạy theo Thẩm Nghiễn Chu, tôi từ bỏ tay nghề sao trà đã luyện từ nhỏ, nghỉ công việc ổn định ở xưởng trà, vượt ngàn dặm tới quân khu, từ một nhân viên văn thư làm việc vặt cố gắng vào được đội thông tin, dốc hết sức chỉ để gần anh thêm nửa bước.
Tôi học cách chiều theo lịch sinh hoạt cứng nhắc đã khắc vào xương tủy anh, thuận theo ranh giới trật tự không chịu nhượng bộ dù chỉ chút ít. Ngay cả nhắn tin hay gọi điện cho anh, tôi cũng phải căn đúng khoảng thời gian rảnh mà anh đã lên kế hoạch, chỉ sợ sai lệch một chút sẽ làm rối loạn lịch trình của anh.
Nhưng tôi lùi hết bước này đến bước khác, cuối cùng vẫn không thể chen vào cuộc đời mà anh đã vạch sẵn.
Nắng trên đồi trà rất gắt. Chỉ vài ngày, hai má tôi đã ửng lên một lớp đỏ nhạt, vẻ trắng bệch quanh năm không thấy ánh mặt trời ở khu nhà gia đình quân nhân cũng dần biến mất.
Mẹ không nhìn thấy gì, nhưng dựa vào mấy chục năm kinh nghiệm trồng và sao trà, bà ngồi trên ghế tre trong sân, chỉ dùng đầu ngón tay cũng có thể phân biệt phẩm cấp trà, đôi tay không ngừng thoăn thoắt nhặt những cọng trà già lẫn trong trà tươi.
Bà thường đột nhiên dừng động tác, khe khẽ thở dài, liên tục nói với tôi rằng đều tại hôm đó bà kéo pháo lễ chậm một giây nên mới phá hỏng lễ cưới lần thứ mười của chúng tôi.
Mỗi lần như vậy, tôi đều ngồi xổm bên cạnh bà, nắm chặt bàn tay đã nhuốm màu trà của bà rồi nhẹ nhàng an ủi:
“Mẹ, chuyện này không trách mẹ.”
Cho dù ngày hôm đó lễ cưới thuận lợi diễn ra, sau này vẫn sẽ có những mâu thuẫn khác chắn giữa chúng tôi.
Trong kế hoạch cuộc đời anh trước giờ chưa từng chừa vị trí cho tôi. Cố gắng gượng ép ở bên nhau thì cuối cùng cũng chỉ là giày vò.
Mỗi khi đêm xuống, tôi thường một mình ngồi bên chiếc chảo sắt sao trà cũ trong nhà chính, mượn ánh trăng lạnh lẽo lau chùi mặt chảo.
Chiếc chảo sắt đã được bàn tay của mấy thế hệ trong gia đình mài sáng bóng suốt mấy chục năm, phản chiếu bóng dáng cô độc, gầy gò của tôi.
Trong danh sách chặn của điện thoại vẫn nằm yên dãy số tôi thuộc nằm lòng. Tôi chưa từng mở ra xem, càng không mềm lòng bỏ chặn.
Nền gạch lạnh thấu xương của hành lang bệnh viện, chiếc xe cứu thương lao đi mất hút, câu “không kịp nữa rồi” đầy bất lực của bác sĩ, tất cả đều khắc sâu vào tận xương. Chỉ cần nhớ lại một chút, trong lòng lại truyền tới cơn đau âm ỉ nặng nề.
Nhưng mỗi khi gió núi xuyên qua tường sân, mang theo hương trà thanh mát tràn vào nhà, nỗi cay đắng cuộn trào trong lòng lại từ từ lắng xuống.