Chương 7 - Căn Nhà Ma Và Những Bí Mật Kinh Hoàng
Đêm đó, tôi sống một ngày dài như một thế kỷ.
Cách giờ Tý nửa đêm một tiếng đồng hồ, tôi đã chuẩn bị sẵn giấm lâu năm và thanh tre gạt theo lời ông cụ dặn.
Tôi không dọn dẹp hiện trường bừa bộn trong nhà.
Ngộ nhỡ ông cụ rắp tâm chuyện mờ ám, mớ dụng cụ lăn lóc trên sàn chính là vũ khí phòng thân cuối cùng của tôi.
Thời gian từng phút từng giây trôi qua.
Kim giờ và kim phút của chiếc đồng hồ treo tường rốt cuộc cũng chập lại tại con số “12”.
“Cốc, cốc cốc.”
Một tràng gõ cửa nhịp nhàng vang lên đúng giờ.
Không nặng không nhẹ, vô cùng trầm ổn.
Tôi hít một hơi thật sâu, ra mở cửa.
Người đứng ngoài chính là ông cụ.
Ông thay một bộ áo khoác cổ đứng màu xanh lam đậm, tay xách một hũ thuốc bằng gỗ cũ kỹ.
Ông gật đầu với tôi rồi đi thẳng vào nhà.
“Cô bé, chuẩn bị xong chưa?”
“Xong hết rồi ạ, giấm cũ và thanh tre để ở đây.” Tôi chỉ vào cái bàn.
Ông bước tới, mở hũ thuốc, lấy ra vài gói giấy.
Mở gói giấy ra, một mùi hương thảo mộc nồng nàn lập tức tỏa khắp phòng.
Ông đổ bột thảo mộc vào một cái niêu đất, bảo tôi đổ giấm cũ vào, rồi dùng một thanh gỗ nhỏ chậm rãi khuấy đều.
Rất nhanh, chất lỏng trong niêu trở nên sền sệt, tạo thành một lớp cao thuốc màu nâu sẫm.
“Đem cái này bôi đều lên mặt gỗ đi.” Ông đưa niêu đất cho tôi.
Tôi nhận lấy, làm theo lời ông dặn, dùng một cây chổi lông mềm cẩn thận quết lớp cao lên toàn bộ khu vực bị sơn đỏ bao phủ.
Làm xong, ông cụ kéo một cái ghế con, ngồi dựa tường, nhắm mắt lại bắt đầu dưỡng thần.
“Một canh giờ, không vội được đâu.” Ông nói.
Tôi căng thẳng đến toát mồ hôi tay, cũng đành kiên nhẫn đứng đợi bên cạnh.
Một tiếng đồng hồ dài như một thế kỷ.
Cuối cùng, ông cụ cũng mở mắt.
“Được rồi.”
Ông đứng dậy, đưa cho tôi một mảnh tre mỏng tang.
“Bắt đầu từ mép, cạo thật nhẹ nhàng.”
Tôi gật đầu, bước tới chỗ bức tường, học theo dáng điệu của ông, dùng một góc mảnh tre khẽ khều vào mép lớp sơn đỏ.
Kỳ tích xuất hiện.
Lớp sơn vốn dĩ cứng ngắc, giờ phút này lại giống như một lớp da mềm mại, dễ dàng bị mảnh tre hẩy lên một góc.
Thuận theo góc đó, tôi khẽ kéo một cái.
Nguyên một mảng “da sơn” màu đỏ cứ thế được bóc ra trọn vẹn!
Phía dưới lộ ra bề mặt gỗ Kim Tơ Nam Mộc ôn nhuận như ngọc, ánh sáng thu liễm, những đường vân gợn sóng màu vàng sậm lung linh dưới ánh đèn, đẹp đến ngạt thở.
Không hề có một vết xước dù là nhỏ nhất!
Tôi phấn khích đến mức suýt hét lên.
“Thần kỳ quá! Ông ơi, cách này của ông đúng là thần kỳ!”
Trên mặt ông cụ thoáng hiện một nụ cười đắc ý.
“Tuyệt kỹ tổ tiên truyền lại, đương nhiên không phải thứ hóa chất vớ vẩn nào cũng có thể so bì.”
“Được rồi, bớt cảm khái đi, làm việc tiếp!”
Công đoạn tiếp theo diễn ra thuận lợi hơn nhiều.
Dưới sự hướng dẫn của ông, chúng tôi rất nhanh đã làm sạch toàn bộ vết sơn.
Sau đó, tới phần quan trọng nhất: Lấy tấm gỗ khổng lồ này ra khỏi tường.
Tôi vốn tưởng sẽ phải dùng xà beng nạy thô bạo, không ngờ ông cụ chỉ đi vòng quanh cái lỗ trên tường một lượt, rồi dùng ngón tay ấn nhẹ vào một góc cực kỳ khuất.
Chỉ nghe “cạch” một tiếng động nhỏ.
Tấm gỗ Kim Tơ Nam Mộc khổng lồ kia vậy mà tự động trượt ra ngoài một thốn (khoảng 3cm)!
“Cơ quan mộng gỗ.” Ông cụ giải thích, “Thứ Lục ban phó giỏi nhất, chính là mấy trò xảo diệu này.”
Hóa ra là vậy!
Đây không còn là giấu của đơn thuần nữa, đây hoàn toàn là một tác phẩm nghệ thuật!
Hai chúng tôi hợp sức, nhấc khối bình phong nguyên khối đó ra khỏi hốc tường.
Nó nặng và to hơn những gì tôi tưởng tượng.
Đây là một tấm gỗ nguyên khối, cao gần 2 mét, rộng khoảng 1,5 mét. Các đường vân núi sông hình thành tự nhiên trên bề mặt trông hệt như một bức tranh thủy mặc, đúng là quỷ phủ thần công.
Chúng tôi dùng vải bông và chăn đã chuẩn bị sẵn để bọc nhiều lớp rồi buộc chặt lại.
Sau đó, là khâu vận chuyển gian nan nhất.
Một già một trẻ, khiêng một vật khổng lồ nặng hàng trăm cân, trong đêm khuya thanh vắng, từng bước từng bước nhích xuống cầu thang.
Tim tôi luôn đập thót trên cổ họng, sợ phát ra bất cứ tiếng động nhỏ nào đánh thức hàng xóm.
May mắn thay, mọi thứ đều suôn sẻ.
Cuối cùng chúng tôi cũng đưa được nó lên chiếc xe tải thùng kín mà tôi đã thuê.
Tôi nhảy lên ghế lái, quay lại định mời ông cụ lên xe.
Nhưng ông xua tay từ chối.
Ông lấy từ trong ngực áo ra một cuốn sổ nhỏ bọc bằng giấy da bò, đưa cho tôi.
“Đây là thủ trát (sổ tay) do Lục ban phó để lại, trong đó ghi chép lại tâm huyết cả đời về nghề sơn mài và làm mộc của lão.”
“Cô bé, cô có thiên phú, đừng làm phí hoài nó.”
“Đi mau đi, rời khỏi cái chốn thị phi này, đến nơi mà cô nên đến.”
Nói xong, ông quay người, chống gậy, không ngoảnh đầu lại mà hòa vào màn đêm của khu tập thể.
Tôi nắm chặt cuốn sổ tay vẫn còn vương hơi ấm, nhìn theo bóng lưng ông dần khuất lấp, khóe mắt cay cay.
Tôi thậm chí còn chưa biết tên đầy đủ của ông.
Tôi nổ máy, từ từ lái xe rời khỏi khu tập thể cũ – nơi đã tạo nên một bước ngoặt xoay chuyển số phận kinh thiên động địa cho tôi.
Ngoài cửa sổ xe, ánh đèn thành phố lướt qua về phía sau.
Phía trước tôi, là một bóng đêm mờ mịt chưa rõ tương lai.