Chương 5 - Bà Nội Tôi Đang Ở Đâu
“Miếu ở núi sau.”
Họ đi đến ngôi miếu đổ nát ở núi sau, thấy mấy bức tượng thần xám xịt, lông mày rủ xuống, khóe miệng khẽ nhếch lên. Cảnh sát dỡ tượng thần từ phía sau ra.
Mẹ ở bên trong.
Bà mặc một chiếc áo sơ mi cũ hoa nhí, tóc chải chuốt gọn gàng, mắt nhắm nghiền, hai tay đan vào nhau đặt trên bụng. Trông bà như đang ngủ, thi th//ể vì sự khô ráo và nhiệt độ thấp trong miếu mà phân hủy rất chậm. Pháp y nói bà đã ch//ết ít nhất nửa tháng trở lên.
Cảnh sát tra ra thân phận của mẹ, bà không phải tên Thúy Hoa, cũng chẳng phải “mẹ Chiêu Đệ”. Bà tên là Tô Mẫn, năm mười chín tuổi bị bắt cóc bán về thôn này cho bố tôi, đến năm qua đời bà vẫn chưa đầy ba mươi lăm tuổi, nhưng xương mu bị tách nghiêm trọng do sinh nhiều con mà không được phục hồi sau sinh.
Không ai biết bà từ đâu đến, cũng không ai tìm bà. Pháp y phát hiện trên người bà có nhiều vết tích từng bị c//ưỡng b//ức, còn có cả những vết bầm tím cũ, trên cổ cũng có vết siết.
Cảnh sát Chu ngồi xổm xuống, nhẹ nhàng hỏi: “Chiêu Đệ, nói cho chú biết, mẹ làm sao vậy? Rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì?”
Tôi rơi nước mắt: “Hôm đó các chú về, họ uống rư//ợu rồi vào chuồng củi.”
“Cháu nghe thấy mẹ hét, nhưng mẹ không cho cháu vào cửa, không cho cháu xem. Sau đó các chú ra ngoài, cháu mới dám vào chuồng củi xem mẹ, mẹ nằm dưới đất, gọi thế nào cũng không tỉnh.”
“Cháu nhớ bà nội nói trong miếu có thần tiên, có thể thực hiện điều ước, cháu liền kéo mẹ đến miếu. Cháu hỏi thần tiên có thể cứu mẹ không, thần tiên nói, đặt mẹ vào trong tượng thần thì mẹ sẽ hồi phục.”
“Cháu liền đặt mẹ vào trong đó.”
Bảy ngày sau, mẹ thực sự trở về, mẹ nói âm sai đã đi rồi, mẹ sẽ không bao giờ rời xa cháu nữa. Đêm đó bà nội đến tìm cháu cũng nhìn thấy mẹ. Bà nội bịt ngực, hít một hơi lạnh, miệng không ngừng lặp lại: “Tạo nghiệp, đúng là tạo nghiệp!”
Bà nội về phòng, ngày hôm sau liền ch//ết. Bác sĩ đến nói bà nội ch//ết vì tâm quý (suy tim do hoảng sợ), bố và các chú đều nghĩ là do vong hồn của mẹ về đòi mạng, dọa cho ch//ết khiếp. Chỉ vì sau khi mẹ ch//ết, đạo sĩ nói để ngăn mẹ tìm về báo thù, nên bảo bố và các chú thay bậu cửa phòng ngủ của bà nội thành gỗ hòe.
Cảnh sát Chu liếc nhìn chiếc vòng bạc trên cổ tay mẹ tôi, lau lau một chút, phát hiện đó là bạc bọc vàng.
“Bố cháu sẽ không tặng một người vợ bị bắt cóc về một chiếc vòng bạc bọc vàng đâu, chiếc vòng này từ đâu ra?” Ông hơi cau mày, “Hôm đó tại sao các chú lại vào chuồng củi?”
Tôi lý nhí: “Chiếc vòng này là bà nội tặng mẹ cách đây ít lâu. Thôn này bình thường khó ra ngoài, chỉ lễ tết mới có người lái xe vào giao hàng. Hôm đó bà nội bảo mẹ dẫn cháu đi bắt xe, bà ở nhà mời bố và các chú uống rư//ợu.”
“Kết quả là bố uống đến hưng phấn, lần nào say ông cũng đi tìm mẹ. Hôm đó vào chuồng củi không thấy mẹ, bố liền nổi giận, bắt mẹ con cháu ở đầu thôn về. Sau đó bố gọi các chú cùng vào chuồng củi, nói là phải dạy dỗ mẹ một trận ra trò cho mẹ phục, cho mẹ từ bỏ ý định bỏ trốn…”
Đêm đó bà nội ngồi giữa sân, nghe tiếng thét thảm thiết vọng ra từ chuồng củi, bà cứ thế rơi nước mắt. Bình thường bà nội rất âm trầm, ít nói cười, lần cuối cùng thấy bà khóc là khi tôi tám tuổi.
Lúc đó tôi đang tắm dưới sân, quay đầu lại bắt gặp ánh mắt trần trụi của ông nội. Tôi sợ quá hét lên một tiếng, gáo nước rơi xuống đất. Bà nội từ trong phòng xông ra, nắm lấy tay tôi lôi vào phòng, vừa véo thịt vừa mắng: “Con đĩ non, lẳng lơ y như mẹ mày, ai cho mày tắm ngoài sân, sau này vào nhà xí đóng cửa lại mà tắm!”
Trước đây ông nội không cho tôi dùng bình nóng lạnh để tắm. Nhưng sau khi bà nội mắng như vậy, ông nội kiêng dè vì bà nội có “thần tiên” hộ thân, nên miễn cưỡng đồng ý. Sau này mấy lần đang ngủ mơ màng, tôi thấy qua khe cửa sổ có một đôi mắt già nua đang nhìn, là mắt của ông nội. Ngay sau đó bà nội sẽ gọi tôi đi, bảo tôi sang phòng hầu hạ bà.
Mãi đến khi ông nội ch//ết, sự đánh mắng của bà nội đối với tôi mới dừng lại.
Cảnh sát Chu nghe xong tiền căn hậu quả, há miệng mấy lần mà chẳng nói được lời nào. Viên cảnh sát cả quá trình phá án luôn nhấn mạnh “không bàn chuyện quỷ thần”, nửa ngày sau mới thốt ra được mấy chữ:
“Đúng là báo ứng.”
10
Sau này, vì nhà tôi xảy ra vụ thảm án diệt môn, đứa em trai còn quấn tã được một người họ hàng xa nhận nuôi. Còn tôi vì tuổi đã lớn, lại là con gái, nhưng trên người mang một khoản thừa kế lớn, có mấy người họ hàng không có ý tốt liên tục tìm đến khuyên bảo, muốn tôi đi cùng họ.
Tôi không đồng ý, tôi được đưa vào viện mồ côi, sau đó được nữ cảnh sát chăm sóc tôi hôm đó nhận nuôi. Chị ấy họ Khương, tôi cũng đổi tên theo chị là Khương Minh Châu. Chị nói, cái tên Chiêu Đệ từ nay không dùng nữa, con là viên minh châu của mẹ.
Tôi lên thành phố đi học, đỗ đại học, tốt nghiệp xong trở thành một phóng viên. Khoản thừa kế của bà nội tôi đã có quyền chi phối, tôi quyên góp một nửa, rồi quay trở lại ngôi làng.
Khi xe lái đến đầu thôn, trời đã gần tối. Cây hòe già đầu thôn vẫn còn đó, nhưng thân cây đã rỗng tuếch, nửa lớp vỏ cây rủ xuống như một gương mặt bị lột da. Đại đa số nhà cửa trong thôn đã sụp đổ, tường sân đầy cỏ dại, thanh niên trai tráng đều đã dọn đi hết, chỉ còn vài nhà còn đỏ đèn, cơ bản đều là những người già không nỡ rời xa quê cha đất tổ.
Tôi đậu xe bên đường, gõ cửa ngôi nhà đầu tiên. Người mở cửa là một bà cụ, lưng còng rạp xuống, cằm gần như chạm vào ngực, bà nheo mắt lẩm bẩm: “Ai đấy?”
“Bà ơi, cháu muốn hỏi thăm bà một chuyện.” Tôi lấy từ trong túi ra một bức ảnh đen trắng của bà nội, đây là ảnh tôi cắt từ tờ báo về vụ án nhà họ Trương năm xưa. “Bà có biết người này không? Trương Lý thị.”
Bà cụ nhận lấy bức ảnh, đưa sát vào ánh đèn nhìn hồi lâu, bỗng nhiên “ồ” lên một tiếng.
“Đây chẳng phải là vợ của nhà họ Trương tìm từ nơi khác về mấy chục năm trước sao?”
“Đảm đang lắm, nghe nói trước khi cưới còn là sinh viên, biết nói tiếng Tây nữa cơ. Sau này một hơi sinh được bốn con trai, phụ nữ trong thôn ai cũng ngưỡng mộ. Nếu không phải vì mắc bện//h không sinh được nữa, thì lão Trương còn muốn bà ta sinh tiếp đấy!”
Tôi hơi cau mày: “Bà ơi, sau này nhà họ Trương xảy ra chuyện gì, bà có biết không?”
Bà cụ ngồi xuống chiếc ghế tre trước cửa: “Nói đến nhà họ Trương, đúng là tà môn.”
“Có một lần, Trương Lý thị đã ch//ết rồi, chúng tôi đều đi ăn đám hiếu, quan tài cũng khiêng ra rồi. Kết quả ngày hôm sau, bà ta lại xuất hiện khỏe mạnh ở đầu thôn, còn ngồi buôn chuyện với chúng tôi, còn mượn tôi cái lược nữa.”
“Sau này nghe nói nhà họ dùng tà thuật gì đó mới khiến Trương Lý thị cải tử hoàn sinh.”
“Tà thuật gì ạ?”
Bà cụ bỗng ngước mắt liếc nhìn tôi: “Cô hỏi cái này làm gì?”
“Cháu chỉ tò mò thôi ạ.”
Bà ta cười lên, miệng chẳng còn mấy cái răng, trông như một hố đen: “Tò mò h//ại ch//ết con mèo đấy.”
Bà cụ gọi một ông lão ra, ông này tai hơi nặng nhưng nói năng rất có khí lực. Tôi hỏi ông, tại sao nhà họ Trương nhất định phải để Trương Lý thị sống lại.
“Thôn mình ngày xưa có ngôi miếu trên núi, trước đây từng bị đập phá, sau này tượng thần bị cô hồn các đảng chiếm giữ nên không ai đến cúng bái nữa. Nhưng nghe nói chỉ cần cúng quỷ, quỷ có thể giúp mình thực hiện ước nguyện. Trương Lý thị đã đi, mấy thằng con trai vô dụng của bà ta bỗng chốc giàu nứt đố đổ vách!”
“Chuyện tốt thế, sao ngoài Trương Lý thị ra không ai đi?”
Ông lão vỗ đùi cái đét: “Đó là quỷ đấy! Ước nguyện với quỷ là phải trả giá! Người già trong thôn lứa chúng tôi đều biết, chỉ có Trương Lý thị là người ngoài nên không biết, chắc chắn là bị lão Trương lừa đi làm vật thế mạng rồi.”
“Cô tưởng thực hiện ước nguyện chỉ là trao đổi thọ mệnh thôi sao? Làm gì có chuyện tốt thế. Thực ra người ước nguyện còn bị quỷ ám, đêm không ngủ được, tính tình thay đổi thất thường, bị hành hạ đến mức người không ra người quỷ không ra quỷ. Trương Lý thị cải tử hoàn sinh bao nhiêu lần như vậy, ước chừng oán khí còn nặng hơn cả quỷ.”
Ông ngẩng đầu lên, đôi mắt đục ngầu nhìn tôi: “Mấy thằng nhóc khốn nản đó, vậy mà vẫn luôn hiến tế chính mẹ đẻ mình, chỉ vì vinh hoa phú quý của bản thân.”
Hỏi rõ tiền căn hậu quả, tôi một mình lên núi. Con đường núi vẫn còn đó, nhưng hẹp hơn năm xưa nhiều, bụi rậm hai bên cao quá đầu người, cành cây rạch vào cánh tay tôi để lại những vết đỏ lằn. Ngôi miếu đổ nát kia sau mười mấy năm sương gió đã hoàn toàn sụp đổ. Mái nhà mất hẳn, chỉ còn vài bức tường đổ, trên tường mọc đầy rêu xanh ngói vỡ rải rác khắp nơi, bị cỏ dại vùi lấp quá nửa.
Nhưng kỳ lạ là mấy bức tượng thần đó vẫn đứng vững. Xám xịt, lốm đốm, lông mày rủ xuống, khóe miệng khẽ nhếch lên. Y hệt như năm xưa. Như thể chưa từng có chuyện gì xảy ra.
Tôi lấy hương nến và hoa quả trong túi ra, bày biện từng thứ lên bàn cúng. Cái bàn đó đã mục nát đến mức không còn hình thù, nhưng vẫn gắng gượng đứng vững. Que diêm quẹt mấy lần mới cháy. Khi đầu hương sáng lên, gió bỗng lặng đi, cả thung lũng không một tiếng động.
Tôi quỳ xuống, dập đầu ba cái. Tượng thần không mở miệng nói chuyện, không hỏi tôi muốn gì. Chúng chỉ yên lặng ngồi đó, lông mày rủ, miệng mỉm cười, như những pho tượng đất bình thường.
Tôi nghĩ, năm đó tượng thần mở miệng nói chuyện, có lẽ là mẹ đang nói. Bà thực sự là vì cứu mạng tôi, kéo dài thời gian để bố không g//iết tôi, cũng là để đòi mạng các chú.
Trong ngôi miếu này bao năm trôi qua vẫn tràn ngập quỷ khí, nhưng tôi không hề thấy sợ hãi. Tôi chỉ thấy rằng, con người còn đáng sợ hơn quỷ nhiều.
Tôi thắp hương xong liền quay đầu rời đi.
Dưới chân núi, mẹ đứng ở đó. Bà mặc chiếc áo sơ mi cũ hoa nhí, tóc bị gió thổi bay, trên mặt mang theo nụ cười.
“Minh Châu.” Mẹ gọi tôi, giọng nói y hệt như ngày xưa, dịu dàng khẽ khàng, “Mẹ chỉ tiễn con đến đây thôi.”
“Mẹ…” Nước mắt tôi bỗng chốc trào ra.
“Mẹ phải đi rồi.” Bà đưa tay ra định chạm vào mặt tôi, nhưng tay đưa được nửa chừng lại rụt về.
“Mẹ ơi, mẹ đừng đi có được không…”
Bà lắc đầu, mỉm cười nhìn tôi, trong mắt có những tia sáng li ti lấp lánh: “Con lớn rồi, không cần mẹ ở bên nữa.”
Tôi nhìn theo hướng mắt của mẹ sang bên cạnh. Bà nội cũng đứng ở đó. Không phải gương mặt xanh xám nhăn nheo, mà là bà nội khi còn trẻ, tết hai bím tóc, mặc một chiếc áo cánh màu xanh chàm, sạch sẽ tinh tươm, như một bức ảnh cũ đã phai màu.
Bà đứng đó, không đi tới, chỉ nhìn tôi, khóe miệng khẽ cử động, như đang nói điều gì đó. Tôi không nghe thấy. Nhưng tôi nghĩ, có lẽ bà đang nói “xin lỗi”.
Mẹ quay người, đi đến bên cạnh bà nội. Hai người đứng song hàng, họ vẫy vẫy tay với tôi. Sau đó bóng dáng nhạt dần từng chút một, như mực thấm vào giấy tuyên. Gió thổi một cái, liền tan biến.