Chương 7 - Ân Tình Của Kẻ Cướp Đoạt
Tiếng khóc của nàng ta từ sắc nhọn chuyển thành khàn đục, cuối cùng chỉ còn những tiếng rên rỉ yếu ớt, vang vọng giữa phố phường thật lâu.
Sau khi hành hình kết thúc, sai dịch kéo tất cả lên xe tù.
Cửa xe đóng lại, roi ngựa vung lên. Bánh xe nghiến qua nền đá xanh đi về phía Bắc.
Đám đông dần giải tán.
Có người nhổ nước bọt xuống đất, có người ném rau thối về phía xe tù. Những người già từng bị Bùi gia ức hiếp quỳ bên ngoài Ngọ Môn, dập đầu về phía hoàng cung, trong miệng không ngừng ca tụng hoàng ân mênh mông.
Ta đứng tại chỗ, nhìn xe tù biến mất nơi góc phố.
Thái tử bước đến bên cạnh ta, không lên tiếng.
Ba tháng sau, ta và Thái tử thành hôn.
Đoàn hồi môn kéo dài mười dặm, được khiêng ra từ cửa chính Lục phủ. Dân chúng toàn thành đứng hai bên đường, nhìn cỗ kiệu lớn tám người khiêng đi qua phố dài.
Rèm kiệu đỏ tươi, thêu phượng hoàng bằng chỉ vàng. Trên đỉnh kiệu đính đông châu, tỏa sáng rực rỡ dưới ánh mặt trời.
Bài vị của phụ thân và huynh trưởng được thỉnh vào Trung Liệt từ. Bệ hạ đích thân đề biển ngạch.
Ngày đưa bài vị vào từ đường, ta đốt một xấp tiền giấy trước điện thờ. Khói xanh bay lên, tan vào gió xuân.
Thái tử đứng phía sau ta, không nói gì. Chàng chỉ chờ ta đốt xong rồi giơ tay đỡ ta đứng dậy.
Cuộc sống trong Đông cung rất bình yên.
Ta trồng một vườn lan trong hậu viện, dựa theo biển hoa năm xưa của mẫu thân mà trồng.
Mỗi khi rảnh rỗi, Thái tử sẽ đến ngồi trong vườn hoa. Có lúc chàng đánh một ván cờ với ta, có lúc không làm gì cả, chỉ ngồi đó uống trà.
Chàng chưa từng nhắc đến chuyện nạp trắc phi.
Có triều thần dâng tấu khuyên chàng nên thu nạp thêm cơ thiếp, khai chi tán diệp. Chàng đè tấu chương xuống, quay đầu nói với ta:
“Năm đó trong quân doanh, khi ta đồng ý cưới nàng, ta chưa từng nói rằng mình còn muốn cưới người khác.”
Mùa đông năm thứ hai sau khi Bùi Chước đến biên cương phía Bắc, có người phát hiện hắn giữa trời tuyết.
Hắn chết cóng bên ngoài trạm gác nơi biên thùy, trên người chỉ khoác một chiếc áo bông rách nát, tay chân đều tím tái.
Lão binh phát hiện ra hắn nói, lúc chết hắn cuộn tròn người, mặt vùi trong tuyết.
Tin tức truyền về kinh thành, không một ai bàn luận.
Tên hắn giống như một chiếc lá rụng, âm thầm mục nát trong bùn đất.
Sau khi tam ty hội thẩm, Bùi mẫu bị xử trảm giam hậu, bị nhốt trong thiên lao chờ đợi nửa năm.
Ngày hành quyết vào mùa thu, bà ta bị áp giải đến pháp trường, quỳ trên bãi cát đã thấm máu của vô số người.
Khi đao phủ giơ đao lên, bà ta đột nhiên gào thét, gọi tên nhi tử của mình.
Không một ai đáp lại bà ta.
Trên đường bị lưu đày đến Lĩnh Nam, Bùi Dao nhiễm bệnh dịch, chưa đến nơi đã tắt thở.
Sai dịch áp giải dùng một tấm chiếu cỏ cuốn lấy thi thể, chôn nàng ta tại bãi tha ma ven đường.
Tòa phủ đệ Bùi gia từng vô cùng hiển hách, sau khi bị tịch thu sung công đã được sửa thành thiện đường, thu nhận cô nhi quả phụ không nơi nương tựa.
Khi cây hòe già trong hậu viện được đào lên, quả nhiên người ta tìm thấy ba bộ hài cốt.
Trong đó có một bộ hài cốt nhỏ bé, co quắp thành một đoàn.
Lại một năm nữa đến Tết Thượng Nguyên, đèn hoa khắp thành sáng như ban ngày.
Thái tử nắm tay ta đi qua phố dài. Hai bên là dòng người đông đúc, phía trên đầu là những ngọn đèn sáng như sao trời.
Chàng mua một chiếc đèn hoa sen đưa cho ta. Ta nhận lấy, ngồi xuống bên bờ sông thả đèn.
Chiếc đèn trôi xa theo dòng nước, hòa vào muôn vàn ánh sáng trên mặt sông.
Ta đứng dậy, quay đầu nhìn thấy chàng đứng giữa ánh đèn, đang mỉm cười nhìn ta.
“Đã ước điều gì?”
Chàng hỏi.
Ta không trả lời.
Trong đêm tuyết kiếp trước, khi bị đông chết dưới hành lang Bùi phủ, ta từng cho rằng đời này sẽ không bao giờ có mùa xuân nữa.
Giờ đây, băng trên sông đã tan, hoa lan nở đầy vườn, khắp phố phường đều ngập tràn ánh sáng.