Chương 1 - Ân Tình Của Hồ Tiên
Ta từng cứu một con bạch hồ. Nó nói rằng sau này nhất định sẽ báo ân.
Thế nhưng ta đợi suốt ba năm, thứ chờ được lại là ba cỗ kiệu hoa. Trong mỗi kiệu đều có một thiếu niên dung mạo tuyệt mỹ, tự xưng là “ân tình” mà hồ tiên ban tặng.
Ta đang định từ chối, kế muội đã đỏ mắt bước lên:
“Tỷ tỷ không thích, chi bằng nhường cho muội đi?”
Ta nhìn ba thiếu niên ấy, chợt nhớ tới lời sấm trong giấc mộng đêm qua:
Nếu đem hồ nô nhường cho người khác, chưa đầy một năm, ngươi sẽ tan cửa nát nhà, ôm hận mà chết.
Mà thiếu niên có nụ cười dịu dàng nhất trong ba người đang lặng lẽ nháy mắt với ta.
## 1
Ta chưa từng nghĩ rằng sẽ có một con hồ ly đến gõ cửa phòng mình.
Càng không ngờ con hồ ly ấy lại biết nói tiếng người.
Hôm đó là tiết Nguyên Tiêu, đèn hoa khắp thành sáng rực như ban ngày.
Ta ngồi một mình trong khuê phòng, đối diện với gương đồng, chậm rãi tháo trang sức.
Người trong gương có dung mạo thanh lãnh, sắc môi hơi nhợt nhạt. Trong đôi mắt hạnh là nỗi cô đơn không sao nói rõ.
Ta giơ tay vuốt nhẹ tóc mai.
Đã ba năm rồi, gương mặt này vẫn chẳng có vẻ đầy đặn, phúc hậu như các quý nữ kinh thành, trái lại còn gầy hơn lúc mới trở về phủ.
Ta tên Tô Hành Chỉ, là đích trưởng nữ của Tô gia.
Ba năm trước, khi được đón về Tô phủ, ta từng cho rằng mình là tiểu thư cành vàng lá ngọc bị thất lạc nhiều năm.
Nào ngờ sau khi trở về mới phát hiện, kế muội Tô Uyển Ninh, người đã chiếm vị trí của ta, từ lâu đã trở thành viên minh châu được cả phủ nâng niu trong lòng bàn tay.
Còn ta chỉ là một người ngoài nên biết ơn vì được thu nhận. Ngay cả hạ nhân trong phủ cũng lén gọi ta là “kẻ từ quê mùa trở về”.
Tiếng pháo ngoài cửa sổ dần im bặt. Ta thổi tắt nến, chuẩn bị đi ngủ.
Ánh trăng xuyên qua song cửa chạm trổ, hắt xuống mặt đất những vệt sáng loang lổ.
Ta mơ màng vừa nhắm mắt, bỗng nghe thấy ba tiếng:
“Cốc, cốc, cốc.”
m thanh không nhanh không chậm, giống như có người dùng khớp ngón tay gõ cửa.
Đêm khuya thanh vắng, ai lại đến tìm ta?
Ta khoác áo đứng dậy, mở cửa phòng.
Bên ngoài hành lang không một bóng người.
Chỉ có ánh trăng lạnh như sương, chiếu cả sân viện trắng bệch.
Cây mai già trong sân khẽ lay động theo gió. Bóng cành cây in trên mặt đất giống như vô số cánh tay khô gầy.
Ta đang định đóng cửa, khóe mắt bỗng nhìn thấy thứ gì đó đặt trên bậc cửa.
Cúi đầu nhìn xuống, ta phát hiện đó là một phong thư màu trắng, bên trên đè một đóa sơn trà đỏ đã khô héo.
Ta nhặt thư lên, mở ra.
Trên giấy chỉ có một hàng chữ, nét mực vẫn chưa khô:
“Ba năm trước, tại cổ miếu phía nam thành, cô nương từng ra tay cứu mạng. Đêm nay, ta đến báo ân.”
Tim ta đột nhiên đập mạnh.
Ba năm trước…
Cổ miếu phía nam thành…
Ký ức lập tức cuồn cuộn tràn về như thủy triều.
Năm ấy ta vừa tròn mười bốn tuổi, vẫn còn sống ở nhà bà ngoại dưới quê.
Một ngày nọ, ta đến phía nam thành đi chợ. Khi ngang qua một tòa cổ miếu hoang phế, ta nghe thấy từ bên trong truyền ra tiếng rên yếu ớt.
Ta lấy hết can đảm bước vào, phát hiện bên dưới bệ thờ có một con bạch hồ đang cuộn mình.
Toàn thân nó trắng như tuyết, không có lấy một sợi lông tạp sắc. Chỉ có chân trái bị kẹp trong bẫy săn, máu tươi nhuộm đỏ một mảng lông lớn.
Nó dùng đôi mắt xanh thẫm nhìn ta.
Ánh mắt ấy không giống dã thú, mà giống như người sắp chết đuối nhìn thấy ánh đèn trên bờ, mang theo sự cầu xin khiến lòng người run rẩy.
Ta mềm lòng, ngồi xổm xuống tháo bẫy giúp nó, sau đó xé vạt áo băng bó vết thương.
Lông của nó còn mềm mại hơn loại tơ lụa thượng hạng nhất, nhưng xúc cảm lạnh lẽo ấy lại khiến đầu ngón tay ta run lên.
Lúc ta chuẩn bị rời đi, con bạch hồ bỗng mở miệng nói tiếng người.
Giọng nói rất thấp, tựa như gió lướt qua rừng trúc:
“Ân đức của tiểu nương tử, ngày sau ta nhất định sẽ báo đáp.”
Khi ấy ta sợ đến hồn vía bay mất, vừa bò vừa chạy ra khỏi cổ miếu.
Sau khi trở về, ta sốt cao suốt ba ngày. Bà ngoại phải mời một bà đồng đến xem. Bà ta nói ta đã va chạm với hồ tiên, đốt mấy lá bùa mới giúp ta hạ sốt.
## 2
Ta vẫn luôn cho rằng chuyện đó chỉ là một giấc mộng.
Nhưng giờ đây, phong thư này đang thực sự nằm trong lòng bàn tay ta.
Ta siết chặt tờ giấy, tim đập như trống trận.
“Ra đây.”
Ta hạ giọng nói:
“Ta biết ngươi đang ở đây.”
Bóng tối phía sau cột hành lang khẽ lay động, một bóng hình từ trong góc tối bước ra.
Đó là một con hồ ly.
Toàn thân nó trắng như tuyết, chỉ có bốn chân mang hoa văn màu đen, giống như đang giẫm lên mực.
Đôi mắt xanh thẫm tỏa ánh sáng nhàn nhạt dưới trăng, lặng lẽ nhìn ta.
Nó lớn hơn ba năm trước rất nhiều, gần như một con sói nhỏ. Thân hình thon dài, đường nét thanh thoát, dường như mỗi tấc đều do tạo hóa tỉ mỉ điêu khắc.
Quỷ dị hơn cả là phía sau nó có ba chiếc đuôi. Mỗi chiếc đều xù như mây, dưới ánh trăng tỏa ra sắc bạc.
“Tam vĩ…”
Ta hít sâu một hơi.
Bà ngoại từng nói, hồ tiên tu hành, trăm năm mới mọc được một đuôi.
Ba đuôi tức là có ba trăm năm đạo hạnh.
Bạch hồ hạ thấp phần thân trước, giống như đang hành lễ với ta.
“Tiểu nương tử chớ sợ.”
Nó lại cất tiếng.
Lần này giọng nói rõ ràng hơn nhiều, tựa như giọng một nam tử trẻ tuổi, trong trẻo nhưng hơi trầm:
“Ba năm trước, tiểu đạo gặp phải lôi kiếp, may được tiểu nương tử ra tay cứu giúp. Khi ấy ta đã lập lời thề, nhất định sẽ báo đáp.”
Ta cố ép nỗi kinh hãi xuống, hỏi:
“Ngươi định báo đáp thế nào?”
Bạch hồ ngẩng đầu, trong đôi mắt xanh dường như mang theo ý cười.
“Tiểu đạo đã tìm cho tiểu nương tử một mối nhân duyên tốt.”
“…Cái gì?”
“Tiểu đạo có ba nghĩa tử, đều đã tu thành hình người, dung mạo và phẩm hạnh đều xuất chúng. Trưa mai, bọn họ sẽ đến tận cửa cầu thân. Tiểu nương tử tùy ý chọn một người là được.”
Ta đứng ngây ra tại chỗ.
Một con hồ ly muốn làm mai cho ta?
Hơn nữa còn làm mai với ba nghĩa tử của nó?
Đây là kiểu báo ân gì vậy?
Ta vừa định mở miệng từ chối, bạch hồ đã hóa thành một luồng sáng trắng, biến mất trong ánh trăng.
Chỉ còn lại một câu nói theo gió đêm truyền vào tai ta:
“Hãy nhớ, tuyệt đối đừng đem bọn họ nhường cho người khác. Nếu không…”
Nó còn chưa nói hết, sâu trong sân viện bỗng truyền đến tiếng cú mèo, nuốt mất nửa câu sau vào màn đêm.
Ta đứng ngoài hành lang rất lâu, mãi đến khi hơi lạnh thấm vào y phục mới quay người trở về phòng.
Đóa sơn trà khô bị ta siết giữa các ngón tay, cánh hoa lả tả rơi xuống.
Đêm ấy, ta trằn trọc không ngủ.
Mặt trăng ngoài cửa sổ dần dịch từ đông sang tây. Ta nghe tiếng canh ba, canh tư rồi canh năm vang lên, trong đầu chỉ lặp đi lặp lại lời của con bạch hồ.
Ba nghĩa tử…
Dung mạo và phẩm hạnh xuất chúng…
Không được nhường cho người khác…
Ta không đoán ra trong những lời ấy đang che giấu điều gì.
Nhưng bà ngoại từng dạy ta một câu:
Trên đời không có ân tình vô duyên vô cớ, cũng không có thù hận vô duyên vô cớ.
Nếu có người đột nhiên đối tốt với ngươi, hoặc là ngươi có giá trị lợi dụng, hoặc là đại họa sắp giáng xuống đầu ngươi.
## 3
Sáng hôm sau, khi Thúy Bình đến chải tóc cho ta, nàng mấy lần muốn nói rồi lại thôi.
“Có chuyện thì nói đi.”
Ta nhắm mắt nói.
Thúy Bình cắn môi:
“Đại tiểu thư, đêm qua viện của nhị tiểu thư náo loạn suốt cả đêm.”
“Náo loạn chuyện gì?”
“Nô tỳ cũng không rõ. Chỉ nghe nói nhị tiểu thư gặp ác mộng, nửa đêm tỉnh dậy, vừa khóc vừa hét rằng ‘Đừng cướp đồ của ta’. Phu nhân phải tự mình đến dỗ dành hơn nửa canh giờ mới yên ổn.”