Chương 7 - Vận Mệnh Trái Ngược Của Tỷ Muội Song Sinh
Hắn điều động chủ lực, muốn trong một trận dã chiến tiêu diệt toàn bộ quân ta. Còn ta, thứ ta đợi chính là khoảnh khắc này.
Ngày quyết chiến, trời nắng gắt.
Trên bãi Qua Bi mênh mông vô tận, hoàng sa cuộn mù mịt, mặt trời độc địa tựa hồ muốn nung chảy cả con người. Ta ngồi trên lưng ngựa, nhìn đội kỵ binh Bắc Địch đen đặc xa xa, lòng bàn tay ướt đẫm mồ hôi.
Không phải là sợ hãi.
Mà là hưng phấn.
“Tướng quân, chúng đến rồi.” Giọng vị Phó tướng có chút căng thẳng.
“Thấy rồi.” Ta nói.
Mười hai vạn kỵ binh, ngợp trời che đất, tiếng vó ngựa rền vang làm rung chuyển cả đại địa. Cảnh tượng đó, cả đời này cũng không thể quên.
Ta rút đao ngang hông, thân đao lóe lên một tia sáng lạnh lẽo dưới ánh mặt trời.
“Liệt trận!”
Bốn vạn tướng sĩ đồng thanh hô vang, tiếng vang chấn động tận mây xanh.
Trận chiến đó, đánh trọn một ngày.
Ta dùng hỏa công, dùng phục binh, dùng kế dụ địch vào sâu, dùng chiến thuật bẻ gãy từng phần. Ta đem tất cả những gì học được từ binh thư, đọc được trong thủ bản của ngoại tổ phụ, đúc kết được từ thực chiến những năm qua toàn bộ lôi ra dùng hết.
Bốn vạn đối đầu mười hai vạn.
Ta thắng rồi.
A Cổ Lạp bị chém rớt ngựa, kỵ binh Bắc Địch tan tác không thành quân, ba tòa biên thành toàn bộ được thu hồi.
Sau trận chiến khi kiểm điểm chiến trường, con số Phó tướng bẩm báo khiến ta trầm mặc rất lâu — quân ta tử trận hơn tám ngàn bảy trăm người, thương vong hơn một vạn. Những huynh đệ đã theo ta suốt đoạn đường dài, rất nhiều người sẽ chẳng bao giờ trở về được nữa.
Ta ngồi một mình trong doanh trướng, ngẩn ngơ nhìn ánh đuốc hồi lâu.
Đó chính là cái giá của chiến tranh.
Nhưng ta không hối hận.
Nếu không đánh trận này, số người chết sẽ chẳng dừng lại ở con số tám ngàn.
Tiệp báo truyền về kinh thành, cả nước hân hoan.
Hoàng đế trên kim điện liên tục nói ba chữ “tốt”, ngay tại chỗ hạ chỉ, phong ta làm nhị phẩm Trấn Quốc Đại Tướng quân, ban thưởng một tấm kim bài, có thể tùy thời tiến cung yết kiến. Lại ban thưởng một ngàn mẫu ruộng tốt, hoàng kim vạn lượng, và một tòa phủ đệ.
Quan trọng hơn, Hoàng đế hạ chỉ thiết lập An Tây Đô hộ phủ ở vùng biên thùy phía tây, bổ nhiệm ta làm vị Đô hộ đầu tiên, tổng quản quân chính Tây Vực.
Ta rốt cuộc đã có địa bàn của riêng mình.
Ngày hồi kinh thuật chức, ta dẫn theo thân binh đi trên phố Trường An, bá tính xếp hàng nghênh đón, miệng hô “Trấn Quốc Tướng quân”, “Nữ tướng quân”, có những đứa trẻ to gan đuổi theo đội ngũ, luôn miệng gọi “Tướng quân tỷ tỷ”.
Ta không kìm được nở nụ cười.
Lúc đi ngang Hầu phủ, cửa phủ mở rộng.
Mẫu thân đứng ở trước cổng, hốc mắt đỏ hoe, bên cạnh là phụ thân — biểu cảm trên mặt ông rất kỳ lạ, dường như đang cố gắng duy trì sự uy nghiêm của một người chủ gia đình, lại giống như đang cố nhịn nước mắt.
Ta xoay người xuống ngựa, đi đến trước mặt họ.
“Phụ thân, mẫu thân.”
Mẫu thân ôm chầm lấy ta, bật khóc nức nở: “Gầy rồi… lại gầy đi rồi…”
Phụ thân đứng cạnh, bờ môi mấp máy, cuối cùng thốt ra được một câu: “… Có bị thương không?”
“Không ạ.” Ta đáp.
Ông gật đầu, không nói thêm lời nào.
Ta biết ông đã cố gắng hết sức rồi. Đối với phụ thân mà nói, có thể hỏi được bốn chữ “Có bị thương không” này, đã là sự đánh giá cao nhất mà ông có thể cho ta.
Đêm đó, ta ăn một bữa cơm ở Hầu phủ.
Không khí trên bàn cơm có chút gượng gạo. Phụ thân cúi đầu uống rượu, mẫu thân không ngừng gắp thức ăn cho ta, nói trước đây ta thích ăn cái này, thích ăn cái kia.
Ta không kể với bà, ở biên quan bao năm qua ta đã sớm chẳng còn kén ăn nữa rồi.
Bữa cơm ăn đến một nửa, ngoài cửa vang lên tiếng bước chân.
Thẩm Tế Nguyệt đến.