Chương 3 - Trở Về Năm 1978 Để Trả Thù
Tôi nhắm mắt không lên tiếng.
Thế là anh cũng không nói gì nữa.
Sáng hôm sau tôi dậy nấu cơm, anh đã ở trong sân chẻ củi rồi.
Trời đông ở vùng Đông Bắc vào tháng Giêng còn chưa sáng hẳn, trong sân lạnh đến mức như có thể nứt vỡ cả đá. Anh mặc bộ quân phục mỏng, một nhát rìu bổ xuống, mảnh gỗ văng tung tóe khắp đất.
“Anh có mặc áo len bên trong không?” Tôi đứng trong bếp gọi anh.
“Có mặc.”
Tôi ló đầu nhìn, quần len cũng không mặc, chỉ có một chiếc quần quân phục mỏng.
“Anh qua đây.”
Anh xách rìu đi tới.
Tôi vào nhà lật cái bọc mang từ hôm qua tới, rút ra một chiếc quần len rồi ném cho anh.
“Mặc vào. Trạm gác của anh âm bốn mươi độ, đầu gối có bị cóng hỏng thì ai chữa cho anh?”
Anh cúi đầu nhìn chiếc quần len kia, vành tai đỏ còn chưa phai hết, lần này lại đỏ tới tận mang tai.
“Ai đan vậy?”
“Em đan, sao?”
“Không phải… anh chỉ hỏi thôi.”
Chiếc quần len đó thật ra là đan từ kiếp trước. Tay tôi vụng về, đan rồi tháo, tháo rồi lại đan, mất cả một mùa đông mới làm xong. Còn chưa kịp gửi cho anh thì người đã không còn.
Kiếp này tôi đan sớm hơn, mũi kim cũng chặt chẽ hơn kiếp trước nhiều.
Anh vào nhà thay quần, tôi nấu cháo trong bếp. Cháo ngô hạt to ăn với dưa muối rồi chiên thêm hai quả trứng. Hoắc đại nương qua nhìn thấy tôi chiên trứng, liền kéo tôi lại: “Giữ trứng lại đi, Hoài An ở bộ đội ăn ngon lắm…”
“Mẹ, anh ấy ở trạm gác ăn là bánh lương khô với khoai tây.”
Hoắc đại nương sững ra một lúc.
Bà không biết cơm nước ở trạm gác biên phòng tệ đến mức nào. Hoắc Hoài An từ trước đến giờ chỉ báo tin vui chứ không báo tin buồn, lần nào viết thư cũng nói “ăn ngon mặc ấm, đừng lo”.
“Cứ để anh ấy ăn.” Tôi nói.
Hoắc đại nương không ngăn nữa.
04
Mùng chín tháng Giêng, Hoắc Hoài An đi rồi.
Anh đi từ lúc trời còn chưa sáng, ngồi xe đường dài từ huyện lên Cáp Nhĩ Tân, rồi chuyển tàu hỏa đi biên giới. Một chuyến đi mất ba ngày hai đêm.
Tôi tiễn anh đến bến xe đường dài.
Trên sân ga gió lớn, thổi đến mức mặt đau rát.
Anh tháo áo bông quân đội định khoác cho tôi, tôi không nhận.
“Trên đường anh lạnh hơn em.”
Anh lại mặc áo vào, kéo khóa lên tận cổ.
Xe tới.
Anh xách túi hành lý lên xe, đứng bên cửa sổ vẫy tay với tôi.
Tôi đứng trên sân ga, nhìn đuôi xe nhả khói đen rồi đi xa dần.
Kiếp trước vào lúc này, tôi đã khóc.
Kiếp này tôi không khóc.
Tôi còn việc quan trọng phải làm.
Trở về cửa hàng cung tiêu, tôi mượn chị Triệu một chiếc xe đạp.
“Cô không biết đi xe à?” Chị Triệu ngạc nhiên.
“Học.”
Tôi đẩy xe ra khoảng đất trống phía sau cửa hàng cung tiêu, ngã mười bảy mười tám lần, đầu gối bầm tím một mảng lớn, hai ngày sau thì học được.
Chuyện biết đi xe đạp ở kiếp trước thì không đáng gì, nhưng ở thời này, một cô gái biết đi xe đạp có ý nghĩa gì?
Nghĩa là tôi không còn phải chờ người khác giúp mình truyền lời, mang thư, gửi đồ nữa.
Tôi đã có đôi chân của riêng mình rồi.
Ngày mười lăm tháng Hai, tôi nhận được lá thư đầu tiên Hoắc Hoài An gửi từ trạm gác.
Là chú Chu cố ý đạp xe đưa tới cửa hàng cung tiêu.
Chữ trên phong bì được viết ngay ngắn vuông vức, chữ viết bằng bút máy, từng nét từng nét giống như khắc ra vậy.
“Tri Ý, đã đến nơi. Mọi thứ đều ổn. Quần len rất ấm.”
Chỉ có đúng ba câu như thế.
Tôi gấp lá thư lại, cất vào ngăn kéo có khóa dưới quầy hàng của cửa hàng cung tiêu.
Sau đó tôi lấy sổ tay ra, lật sang một trang mới.
Từ hôm nay, cuốn sổ này dùng để ghi chép sổ sách.
Ghi lại từng đồng từng xu mà Vương Quế Phương đã tiêu.
Kiếp trước tôi không biết rốt cuộc bà ta đã tham bao nhiêu, chỉ biết tiền trợ cấp của mẹ tôi không còn nữa, tiền hồi môn của tôi cũng bị bớt xén. Nhưng con số cụ thể thì không nói rõ được, cũng không có chứng cứ, đến chết vẫn không thể nói rõ.
Kiếp này, tôi ghi từng khoản một.