Chương 7 - Trở Về Để Trả Thù
Bây giờ nàng chạy khỏi trang viên, liệu có ngã xuống con sông nào đó hay không?
Ta không biết.
Cũng không muốn biết.
Nửa tháng sau, biên quan truyền tới cấp báo.
Nhị đường huynh Khúc Chiếu Dã khi phục kích một toán giặc cướp ở biên giới đã trúng tên bắn lén, đầu tên tẩm độc, lập tức hôn mê.
Quân y dốc sức ba ngày ba đêm mới cứu được huynh ấy, nhưng độc đã xâm nhập phế phủ, kinh mạch cánh tay phải bị tổn thương, từ đó không thể cầm đao nữa.
Ngày tin tức truyền về phủ, tổ mẫu nhắm mắt lần tràng hạt suốt cả đêm.
Ta thức đêm viết một phong thư, nhờ người mang tới biên quan.
Trong thư chỉ có một câu.
“Ca ca, huynh trở về đi, muội sẽ gọt đao gỗ cho huynh.”
Nửa năm sau, Khúc Chiếu Dã trở về kinh thành.
Huynh ấy gầy đi rất nhiều, trên mặt có thêm hai vết sẹo, cánh tay phải buông thõng bên người, không thể giơ lên nữa.
Huynh ấy đứng trước cửa phủ, nhìn ta rồi cố nở nụ cười.
“Lan Lan cao lên rồi.”
Ta nhào vào lòng huynh ấy, khóc đến toàn thân run rẩy.
Huynh ấy dùng tay trái nhẹ nhàng vỗ lưng ta.
“Đừng khóc, ca ca vẫn còn sống mà.”
Đêm đó, cả phủ không một ai cười nổi.
Nhưng cũng chẳng ai khóc.
Bởi Khúc Chiếu Dã ngồi bên bàn, dùng tay trái cầm đũa, gắp một miếng thịt kho cho vào miệng rồi hài lòng gật đầu.
“Vẫn là thịt ở nhà ngon.”
Đại bá mẫu đỏ mắt mắng huynh ấy: “Con chỉ biết ăn!”
Huynh ấy cười hề hề.
Sau đó, tổ mẫu sắp xếp cho huynh ấy một công việc mới.
Quản hộ vệ trong phủ.
Ban đầu huynh ấy không vui, cảm thấy trông cửa cho nhà mình chẳng có tiền đồ.
Tổ mẫu chỉ nói một câu: “Nếu ngay cả cửa nhà mình ngươi cũng không bảo vệ được, còn bảo vệ biên quan gì nữa?”
Huynh ấy im lặng hồi lâu rồi nhận việc.
Từ đó mỗi ngày trời còn chưa sáng, huynh ấy đã dẫn hộ vệ tuần tra khắp phủ, nắm rõ từng bức tường, từng cánh cửa.
Năm ta mười bốn tuổi, kinh thành xảy ra một chuyện lớn.
Thái tử Lý Thừa Càn bị người ta tố giác âm thầm cấu kết ngoại thích, tự ý luyện binh, mưu đồ tạo phản.
Chứng cứ xác thực, Thánh thượng nổi giận, phế Thái tử thành thứ dân, giam lỏng tại hoàng lăng.
Đông cung chỉ trong một đêm bị niêm phong, cả Lý gia bị tống vào ngục, đích nữ Lý gia từng gả vào Đông cung cũng bị phế thành thứ dân, đưa về nguyên quán.
Khi tin truyền tới, ta đang ngồi dưới hành lang xem chiếc guồng nước cơ quan mới do Khúc Triệu Lân làm.
Guồng nước quay kẽo kẹt, những mảnh đồng lóe sáng trong ánh nước.
Ta nhìn rất lâu rồi đặt nó trở lại bàn.
“Tam ca, huynh nói xem, nếu một người lúc nào cũng muốn cướp đồ của người khác, có phải cuối cùng thứ gì cũng không giữ được không?”
12
Khúc Triệu Lân không ngẩng đầu: “Đương nhiên. Phúc khí của một người có hạn, chiếm của người khác thì sớm muộn cũng phải trả lại.”
Ta không nói thêm.
Chỉ nhớ tới cái lạnh dưới đáy hồ băng kiếp trước, nhớ tới cảnh Khúc Nhược Tuyết cười rồi giẫm nát chiếc đèn thỏ ngọc của ta.
Giờ đây, vị Thái tử nàng từng muốn gả đã bị phế.
Khúc gia mà nàng từng muốn hại vẫn bình an.
Kẻ từng đẩy ta xuống hồ không biết đang dừng chân ở thôn hoang quán vắng nào, trên người có lẽ vẫn mặc bộ áo vải thô đã giặt bạc màu ở trang viên.
Còn ta ngồi dưới mái hiên Khúc gia, phơi nắng xuân ấm áp, trong tay lật bài tập mới do Lâm phu tử giao.
Ta không biết như vậy có được xem là phúc khí hay không.
Nhưng ta biết thế là đủ.
Năm mười lăm tuổi, tổ mẫu bệnh một trận.
Bệnh không nặng, chỉ ho nửa tháng, ban đêm ngủ không yên.
Ta canh bên giường, đọc cho bà nghe những bài thơ mới học.
Bà nhắm mắt nghe, đột nhiên lên tiếng.
“Lan Lan, con từng oán tổ mẫu chưa?”
“Oán chuyện gì?”
“Oán tổ mẫu năm đó nhận Nhược Tuyết về.”
Ta đặt sách xuống, nghiêm túc nhìn bà.
“Tổ mẫu, Khúc gia không có lỗi với nàng.”
“Con đường nàng đi là do nàng tự chọn.”
“Con đường con đi cũng là do con tự chọn.”
Tổ mẫu mở mắt, nhìn ta thật lâu rồi đưa tay vuốt đầu ta.
“Con thông suốt hơn phụ thân con.”
Ta bật cười.
“Tổ mẫu cứ khen con đi.”
Cuối cùng bà cũng cười.
Mùa đông năm ấy, Khúc Chiếu Dã thành thân.
Huynh ấy cưới nhị cô nương nhà họ Triệu, chủ tiệm tơ lụa ở phía đông thành. Nàng tính tình thẳng thắn, giọng nói lớn, lần đầu tới phủ đã dám tranh miếng bánh hoa quế cuối cùng với Khúc Chiếu Dã.
Tổ mẫu rất thích nàng, nói cô nương này có tướng vượng gia.
Ngày thành thân, Khúc Chiếu Dã mặc hỉ bào đỏ thẫm, dùng tay trái dắt tân nương bước vào cửa.
Khi huynh ấy quỳ bái trước chính đường, ta đứng trong góc, nhìn thấy vai phải huynh ấy hơi xệ xuống, giống như vẫn chưa quen với việc chỉ còn một cánh tay có thể dùng sức.
Nhưng lưng huynh ấy vẫn thẳng tắp.
Dưới khăn trùm đỏ của tân nương lộ ra một đoạn cổ trắng như tuyết, vành tai đỏ như sắp nhỏ máu.
Ta nhìn bọn họ bái thiên địa, bái cao đường, cuối cùng phu thê giao bái.
Khoảnh khắc lễ thành, pháo nổ vang cả đại sảnh, giấy đỏ rơi đầy đất.
Ta lặng lẽ lau khóe mắt.
Kiếp trước Khúc Chiếu Dã chết nơi biên quan, hài cốt chẳng còn.
Kiếp này huynh ấy ngồi trong đại sảnh, tay trái nâng chén, kính tất cả mọi người một chén rượu.
Thế là đủ.
Mùa thu năm ta mười sáu tuổi, ta nhận được hôn thư của Tô gia Giang Nam.