Chương 15 - Tình Yêu Giữa Hai Thế Giới
Chỉ có một chuyện lướt qua trong đầu: ta quản gia sáu năm, mỗi năm tháng Ba thu địa tô, số trên sổ năm nào cũng ít hơn năm trước một chút. Ta từng tra ba lần, đều tra đến ruộng đất, nói là ít nước, nói là thu hoạch kém.
Ta không tra vào trong nhà.
Ta nhìn Thường tam thẩm.
“Tam thẩm.”
Bà ta nằm bệt dưới đất, không nhìn ta.
“Đáng lẽ ba năm trước con nên động thủ.” Ta nói. “Tiền thuê ba năm này, là lỗi của con.”
Tộc trưởng gõ gậy xuống đất.
“Báo quan.”
13
Người của nha môn đến ngay chiều hôm ấy.
Khi A Phượng đi, nàng ta quay đầu nhìn ta một cái.
“Khương Chiêu.” Nàng nói.
“Ừ.”
“Ngay từ ngày đầu, ngươi đã không tin ta.”
“Phải.”
“Vì sao?”
“Bởi khi ngươi gọi ta là tẩu tẩu, quá thuận miệng.” Ta nói. “Một cô nương vừa chết ca ca, vừa bước vào nhà người lạ, tiếng tẩu tẩu đầu tiên không thể gọi vững vàng như vậy.”
Nàng không nói nữa.
Khi Thường tam thẩm bị khiêng đi vẫn còn gào. Gào cái gì, không ai nghe rõ.
Thường Ngọc Lang quỳ trong từ đường ba ngày. Tộc trưởng lên tiếng, phạt hắn ba năm tiền tháng, chép tộc quy một trăm lần, ngoài ra từ năm nay trở đi, theo quản gia học xem sổ sách, học không rõ thì không được ra khỏi phủ.
Lão phu nhân bệnh nửa tháng.
Lần đầu bà xuống giường là ngày hai mươi tháng Chín.
Hôm đó ta bưng thuốc vào thượng phòng. Bà ngồi trên giường nhỏ, nhìn ra ngoài cửa sổ.
“Chiêu nhi.”
“Mẫu thân.”
“Con đặt thuốc xuống.”
Ta đặt xuống.
“Con ngồi đi.”
Ta ngồi xuống.
Bà nhìn ta rất lâu.
“Hôm đó trong từ đường, con nói một câu.”
“Câu nào?”
“Con nói, lời đã nói trong từ đường thì không thu lại được.”
“Vâng.”
“Con đã biết từ sớm.” Bà nói. “Con đã biết nàng ta là giả từ sớm.”
“Ngày thứ ba sau khi nàng ta vào cửa, con đã biết.”
“Vậy vì sao con không nói sớm?”
“Con nói rồi mẫu thân có tin không?”
Lão phu nhân không nói.
“Mẫu thân, nếu ngày thứ ba con chạy đến nói với mẫu thân rằng người này là giả, mẫu thân sẽ nói con không dung được người khác.” Ta nói. “Nếu ngày thứ mười con nói, mẫu thân sẽ nói con lòng dạ ác độc. Con phải đợi. Đợi nàng ta tự mình ra tay, đợi bàn tay nàng ta vươn ra được mẫu thân tận mắt nhìn thấy.”
Nước mắt lão phu nhân rơi xuống.
“Cả đời ta chưa từng hồ đồ như vậy.”
“Mẫu thân không hồ đồ.” Ta nói. “Mẫu thân là nghe thấy bốn chữ ơn cứu mạng.”
“Ta có lỗi với con.”
“Mẫu thân.” Ta bưng bát thuốc lên. “Thuốc nguội rồi.”
Bà nhận lấy, uống.
Uống được nửa bát, bà dừng lại.
“Đứa trẻ kia… Tiểu Mãn thật, con sắp xếp ở đâu?”
“Nam khóa viện.” Ta nói. “Viện đã lợp lại ngói.”
“Nàng ấy bằng lòng ở?”
“Không bằng lòng.” Ta nói. “Con nói với nàng ấy ba ngày, nàng ấy mới chịu chuyển vào.”
“Nàng ấy sợ gì?”
“Nàng ấy sợ nhà ta trả ân tình cho nàng ấy quá nặng, nàng ấy không trả nổi.”
Lão phu nhân đặt bát xuống.
“Con gọi nàng ấy đến đây.”
Tần Tiểu Mãn đi vào, vẫn là bộ vải xanh kia, tóc chải từ bên trái xuống.
Nàng quỳ xuống dập đầu.
“Đứng dậy.” Lão phu nhân nói. “Lại đây.”
Nàng đi qua.
Lão phu nhân đưa tay, vén tóc bên trái của nàng ra sau tai.
Vết sẹo kia lộ ra.
Lão phu nhân nhìn rất lâu.
“Sau này không cần che.” Bà nói. “Trong nhà này, không ai nhìn mặt con.”
Nước mắt Tần Tiểu Mãn lập tức rơi xuống.
Đầu tháng Mười, tiền tuất của Binh bộ được làm lại một lượt. Bảy mươi hai lượng A Phượng lĩnh đi được truy hồi từ rương nhà Thường tam thẩm, không thiếu một đồng. Ta lại thêm ba trăm lượng, đặt chung dưới danh nghĩa Tần Tiểu Mãn.
Ta mời tộc trưởng làm người bảo lãnh, để hộ tịch của nàng ấy ghi dưới danh nghĩa Thường gia, viết là “gửi nuôi”, không vào gia phả. Điều này là do ta kiên trì.
Tần Tiểu Mãn hỏi ta vì sao.
“Vào gia phả, ngươi chính là người Thường gia.” Ta nói. “Cô nương Thường gia xuất giá, sính lễ, của hồi môn, nhà chồng chọn người, thứ nào cũng có quy củ, ngươi không tự mình định đoạt được.”
“Vậy gửi nuôi thì sao?”
“Gửi nuôi thì ta là người bảo lãnh, không phải chủ tử.” Ta nói. “Ngươi muốn gả cho ai, tự ngươi chọn. Ngươi không muốn gả, cứ ở đây. Ngươi muốn mở cửa hiệu, ta tìm mặt tiền cho ngươi.”
Nàng cúi đầu rất lâu.
“Tẩu tẩu.”
“Ừ?”
“Ta có thể… mở một cửa hiệu vẽ hoa văn không?”
“Có thể.”
“Tay phải ta nhấc không nổi.”
“Tay trái ngươi có thể vẽ.” Ta nói. “Vẽ hoa văn không cần dùng hai tay.”
Ngày mười hai tháng Mười, phía nam thành mở một cửa tiệm nhỏ, mặt tiền hai gian, trên bảng hiệu có ba chữ: Tiểu Mãn Ký.
Ngày khai trương, Thường Ngọc Hành đến, đứng ở cửa giúp người ta chuyển ghế, chuyển suốt một buổi sáng.
Về rồi hắn nói với ta: “Mẫu sen dây leo nàng ấy vẽ giống hệt hoa văn khắc trên vỏ đao của Tần Liệt.”
“Ca ca nàng ấy khắc?”
“Nàng ấy vẽ.” Hắn nói. “Ca ca nàng ấy khắc theo.”
Ta không tiếp lời.
Đêm đó, ta lấy bảy phong gia thư từ trong hộp ra, đốt từng phong một.
Thường Ngọc Hành đứng bên cạnh nhìn.
“Đốt làm gì?”
“Đã nhớ rồi thì không cần giữ.”
“Nàng đều nhớ?”
“Bảy phong, ta đều thuộc.”
Hắn đứng một lát.
“Nương tử.”
“Ừ.”
“Hôm đó trong từ đường, nàng nói nàng muốn viết hưu thư.”
“Ta nói rồi.”
“Nàng thật sự sẽ viết?”
Ta nhét trang cuối cùng vào chậu than.
“Chàng đoán xem.”
“Ta đoán nàng sẽ không.”