Chương 5 - Mãn Hoa Nhi và Cuộc Sống Mới Tại Trần Phủ

🔥 Mời bạn theo dõi page Đậu Xanh Rau Má để đọc sớm nhất các truyện mới nhất!

Trước đây nhà nghèo, cơm không đủ ăn, nhìn nương bệnh mà không có tiền chữa.

Giờ đây không chỉ có cửa tiệm riêng, được làm việc mình thích, lại còn dư dả tiền bạc giúp đỡ bà con lối xóm.

Đây chẳng phải là kết quả của việc Bồ Tát phù hộ sao?

Ánh hoàng hôn loang loáng sau lưng, suối rừng róc rách, hương hoa chim hót, thật đúng là cõi thế ngoại đào nguyên.

Sáng sớm hôm sau, ta từ biệt sư thái để xuống núi.

Cửa chùa vừa mở ra, đã thấy một người đang đứng chắp tay sau lưng, ánh nắng từ sau lưng người chiếu tới, hào quang vạn trượng.

Định thần nhìn kỹ, không phải Thiếu gia thì còn là ai?

Ngoại truyện Góc nhìn của Thiếu gia

Ta cảm thấy cuộc đời mình thực sự bắt đầu từ năm mười hai tuổi.

Năm đó cha bị cấp trên liên lụy, Trần phủ bị lục soát, cả nhà vào ngục, ta bị nhốt chung với cha.

Mới đầu ta rất hoảng loạn. Một thiếu niên mười mấy tuổi đầu, trải qua biến cố lớn như thế, có thế nào cũng thấy sợ hãi.

Ta cứ ngỡ cha là văn thần sẽ không chịu nổi nỗi khổ lao tù.

Nhưng vị Lão gia ngày thường vốn hưởng thụ vinh hoa quý quý này lại vẫn giữ được vẻ điềm tĩnh trầm mặc như xưa.

Không chỉ vậy, người còn dạy bảo ta: “Quân tử đương trì uy trọng chấp kiên nhẫn, lâm đại nạn nhi bất cụ, thị bạch nhận nhược vô dã.”

Điều kiện sinh hoạt thì khỏi phải nói, sống sung sướng trong phủ đã lâu, giờ đây như từ trên mây rơi xuống vũng bùn.

Trước kia ngủ đệm mềm, giờ ngủ rơm khô; trước kia ăn cả bàn đầy thức ăn ngon, giờ chẳng thấy chút thịt cá, mà đa phần chỉ có gạo cũ cơm thiu.

Dù vậy, cha vẫn bảo ta phải tu tâm dưỡng tính, tĩnh lặng chờ đợi thời cơ.

Ngày tháng như thế trôi qua được một tháng, chợt một đêm, ta loáng thoáng nghe thấy tiếng khóc từ bên ngục nữ vọng lại, dường như là tiếng của Nguyệt Nhi.

Cha vẫn không đổi sắc mặt, như thể nhìn thấu tâm can ta, người nói:

“Ngục giam canh phòng nghiêm ngặt, dựa vào chút võ nghệ mèo cào của con, muốn phá cũi sổ lồng đã khó, còn muốn đưa cả nhà ra ngoài thì vạn lần không thể.”

“Chi bằng tĩnh tâm lại, giữ gìn thể lực để tính chuyện tương lai.”

Trong nỗi nôn nóng ấy, chúng ta cầm cự từ mùa xuân sang mùa thu.

Trong thời gian đó tuy có thẩm vấn vài lần, nhưng quan đường vốn là người quen cũ của cha, lại thêm cha nhất quyết không nhận tội, cũng chưa bị bãi miễn chức quan nên không bị dùng hình.

Chúng ta chỉ là bị nhốt trong ngục, mất đi tự do mà thôi.

Một ngày nọ, ngục tốt đột nhiên đến bảo sẽ giải chúng ta lên kinh sư để Thánh nhân thân chinh thẩm xét.

Ta và cha nhìn nhau, cả hai đều im lặng không nói gì.

Trải qua nửa năm bị giam giữ, ta đã trầm ổn hơn nhiều.

Hễ rời khỏi ngục tối này thì dù là phúc hay họa, cứ đi rồi sẽ biết!

Đến lúc ra khỏi ngục, ngục tốt đeo xiềng xích cho chúng ta, đẩy đến trước ngựa, ta mới nhìn thấy nương.

Nương gầy đi trông thấy, nhưng may sao thần thái vẫn bình ổn, ta cũng yên tâm phần nào.

Nhưng nhìn trái ngó phải, tuyệt nhiên không thấy bóng dáng Nguyệt Nhi đâu.

Bên cạnh nương lúc này lại là nha hoàn thân cận của Nguyệt Nhi — Đồng Nhi.

Ta không hiểu chuyện gì đang xảy ra, đưa ánh mắt nghi hoặc nhìn nương, chỉ thấy người khẽ lắc đầu.

Ta hiểu ý nương, người bảo ta đừng mở miệng hỏi.

Đi tới Vĩnh Lợi Châu, một đêm nọ, bỗng có ám vệ vượt tường vào phòng.

Cha nói với ta rằng ngoại công đã sai người đến cứu chúng ta, bảo ta vận động gân cốt, chuẩn bị sẵn sàng.

Trong lòng ta kinh ngạc vô cùng: Tại sao đến giờ ngoại công mới cứu?

Tuy nhiên, nghi vấn này nhanh chóng được giải đáp.

Đêm đó, dưới sự chiến đấu liều chết của ám vệ, cả nhà chúng ta đều thuận lợi được cứu lên thuyền.

Tuy giữa chừng cũng làm kinh động đến ngục tốt nhưng hữu kinh vô hiểm, mọi người đều thoát thân an toàn.

Lên đến thuyền, cha mới nói cho ta biết, người luôn tin rằng ngoại công sẽ đến cứu, chỉ là đợi thời cơ mà thôi, nên luôn giữ hy vọng.

Sở dĩ không nói cho ta biết, một là để mài giũa tâm tính của ta, hai là lo sợ rò rỉ tin tức khiến quan binh cảnh giác.

Sau đó, ta biết được chuyện Đồng Nhi liều thân cứu Nguyệt Nhi.

Ta chấn động khôn cùng. Đó là một cô nương dũng cảm đến nhường nào, mới dám một mình vào ngục, lại còn thuận lợi cứu được Nguyệt Nhi đi.

Trước đây chỉ thấy hai con bé nha đầu suốt ngày đùa nghịch với nhau, nào ngờ con bé lại có tâm hồn can trường như thế, đúng là ta đã nhìn lầm người rồi.

Nghĩ lại, nếu đổi lại là ta, liệu ta có sẵn lòng hy sinh mạng sống vì một người không cùng máu mủ hay không?

E là không sẵn lòng, nhưng Đồng Nhi lại làm điều đó.

Sự kinh ngạc trong ta chuyển thành lòng kính phục.

Nương nói, sau này Đồng Nhi chính là người trong nhà chúng ta.

Điều đó là đương nhiên, hoạn nạn mới thấy chân tình, đương nhiên là người một nhà rồi.

Đến Bắc Mộ Châu, qua thời gian tiếp xúc trên thuyền, ta cũng hiểu thêm về phẩm chất của nàng.

Đây là một cô nương vẻ ngoài có chút ngây ngô nhưng nội tâm lại vô cùng dũng cảm, khác hẳn với những vị tiểu thư khuê các ta từng gặp trước đây.

Chúng ta ở trong trạch viện do ngoại công sắp xếp. Ta thường thấy Đồng Nhi ngẩn ngơ ngắm đàn nhạn trên trời, thầm nghĩ chắc cô bé đang nhớ người thân rồi?

Thế là ta bước tới sau lưng nàng, vừa định nói chuyện thì lại làm người ta giật nảy mình.

Nhìn thấy khuôn mặt nhỏ nhắn đỏ bừng lên như quả chín, lòng ta thấy có chút buồn cười, lại có chút căng thẳng lạ lùng.

Đến mức mới nói được hai câu, ta đã phải quay người bỏ chạy mất hút.

Việc Ngũ vương gia và Bát vương gia tranh giành đế vị là chuyện không cần bàn cãi.

Ta đã bàn bạc với cha và ngoại công.

Chi bằng nhân lúc loạn thế này mà đầu quân hiệu lực, giúp Bát vương gia đánh hạ giang sơn.

Làm vậy không chỉ xóa được tội cũ, mà biết đâu còn được phong thưởng một phen.

Nương vốn dĩ không đồng ý, người lo ta ở quân doanh sẽ gặp bất trắc.

Nhưng ý ta đã quyết, ta đã lớn rồi, không thể để gia đình lại bị hãm hại, bị phó mặc cho sinh tử như trước nữa.

Huống hồ ngay cả một nha đầu nhỏ như Đồng Nhi còn dũng cảm đến thế, ta sao có thể thua kém muội ấy?

Nương thấy ta kiên trì như vậy, đành phải chiều theo ý ta.

Ngoại công là Tham tướng trấn thủ Bắc Khương, nửa đời trên lưng ngựa.

Ông bảo ta đã bị nương nuông chiều hỏng rồi.

Mấy ngón võ phòng thân ta học từ nhỏ chỉ là hoa quyền tú cước làm cảnh, lên chiến trường là phải liều mạng, mấy thứ đó chẳng ích gì.

Được thôi, vậy thì luyện lại từ đầu.

Nhưng nào có dễ dàng đến thế. Áo giáp rất nặng, chiến kích còn nặng hơn.

Lòng bàn tay mài rách, đùi bị trầy xước, đau đến mức ta phải nhe răng trợn mắt.

Lúc này, trong nhà gửi đến cho ta áo lót và hộ đầu gối.

Ta khẽ chạm vào, lớp lông thật dày, đường kim mũi chỉ thật khít.

Trong lòng thầm nghĩ, chắc không phải là do Đồng Nhi khâu đấy chứ?

Càng nghĩ, tay ta lại càng thêm có sức lực.

Trận chiến kéo dài hai năm, ta bắt đầu từ một chiến sĩ xông pha trận mạc, dần dần có uy tín, bên cạnh cũng tụ tập được một đội ngũ nhỏ.

Người đắc lực nhất vẫn là Mãn Trụ Nhi.

Thằng nhóc này không hổ là đệ đệ của Đồng Nhi, tuy chưa từng đi học, chẳng biết chữ gì nhưng đầu óc cực kỳ linh hoạt, sức lực lại lớn.

Chúng ta cùng nhau đánh thắng mấy trận liền, tướng quân ngày càng trọng dụng ta, ta cũng trở thành phó tướng của ngoại công.

Mãn Trụ Nhi đương nhiên là phó tướng của ta rồi.

Nó xông trận như không cần mạng, mấy lần suýt chút nữa là không trở về được.

Ta hỏi nó sao lại liều mạng thế, nó chỉ nhe răng cười không nói, lấy ra một cái bùa hộ mệnh.

Nó bảo là tiểu thư tặng, nhất định sẽ phù hộ nó bình an trở về, bảo ta đừng lo.

Ta ghen tị vô cùng. Bùa hộ mệnh tiểu thư tặng sao?

Hừ, Nguyệt Nhi cái con bé thối tha đó, chỉ biết nghĩ cho Mãn Trụ Nhi, sao không nghĩ đến anh trai ruột này chứ?

Lại nghĩ đến Đồng Nhi, hai nha đầu đó suốt ngày dính lấy nhau, chẳng lẽ làm bùa lại chỉ làm một cái.

Thế là ta cởi áo lót ra kiểm tra kỹ lưỡng, cuối cùng cũng tìm thấy một đường chỉ ngầm ở trước ngực.

Rạch ra xem, quả nhiên là một cái bùa hộ mệnh đỏ chói.

Ta vui sướng phát điên, hóa ra những trận thắng ta đánh được đều là nhờ Đồng Nhi cầu Bồ Tát phù hộ cho ta.

Tướng quân hỏi ta: “Có nguyện ý lưu lại thủ thành không?”

Ta đã tính toán kỹ rồi, năm nghìn binh mã thủ một tòa thành trống, nhiều nhất chỉ cầm cự được mười ngày.

Nếu mười ngày sau viện quân không tới, thành chắc chắn sẽ bị phá.

Ngoại công nhìn ra nỗi lo của ta, ông cười bảo nhất định trong mười ngày sẽ đánh tan địch quân để hội quân với ta.

Vậy thì còn gì để nói nữa, phú quý cầu trong hiểm nguy.

Ta cùng tướng quân và ngoại công vỗ tay thề, lập quân lệnh trạng, thề thủ thành mười ngày.

Thành còn ta còn, thành mất ta mất!

Lúc ngoại công khởi hành, ông nói với ta: “Thằng nhóc, thủ thành cho tốt, ông cháu ta sẽ cùng nhau sát cánh chiến đấu!”

Bách tính trong thành sớm đã tản đi hết rồi.

Lần này năm nghìn người đối đầu với năm vạn người, bất kể là ai cũng thấy sợ hãi.

Thế là ta tập hợp quân sĩ làm một bài động viên trước trận chiến:

“Anh em, chúng ta đều là nam nhi đội trời đạp đất, sau lưng là cha mẹ vợ con.”

“Chúng ta thủ không phải là tòa thành, mà là mạng sống của người thân.”

“Chỉ cần chúng ta còn một ngày, là còn bảo vệ được gia đình một ngày.”

“Mọi người nhất định phải đồng lòng vượt qua hoạn nạn này, vinh hoa phú quý đang chờ chúng ta ở phía trước!”

Năm ngày đầu, chúng ta và quân địch vẫn ở thế giằng co, đi tới đi lui đánh nhau rất rôm rả.

Mãn Trụ Nhi cười bảo, cứ tưởng chúng lợi hại thế nào, hóa ra cũng chỉ có vậy.

Ta thì không dám lơ là, trên chiến trường, chưa đến giây phút cuối cùng thì không thể coi là thắng.

Từ ngày thứ sáu, quân địch bắt đầu phát điên, liều chết tấn công vào thành.

Ta đoán là ngoại công đã vòng ra sau lưng quân địch bắt đầu tấn công rồi.

Giờ đây chỉ có công hạ được thành trì này, bọn chúng mới mở được một con đường máu, nếu không, khi vòng vây càng thu hẹp, chúng chỉ có con đường chết.

Thế là chúng ta cũng khẩn trương điều chỉnh trạng thái, giữ thành thật chặt, không để hở một kẽ tóc cho đối phương.

Ngày thứ chín, cổng thành rốt cuộc cũng bị phá.

Đây cũng là chuyện trong dự tính, quân số của chúng ta quá ít, chiến đấu luân phiên suốt chín ngày, thực sự là không chịu nổi nữa.

Quân địch từ bốn phương tám hướng tràn vào, chúng ta chỉ còn lại một nghìn người.

Chỉ có thể ẩn nấp trong các con hẻm, lợi dụng địa hình quen thuộc để chặn đánh quân địch.

Thành phá không quan trọng, chỉ cần chưa để chúng vượt qua phòng tuyến thì chưa tính là thất bại.

Một nghìn người đánh còn tám trăm, tám trăm còn năm trăm, cuối cùng chỉ còn ba trăm người.

Ta và Mãn Trụ Nhi dẫn theo tàn quân, kiên cường chặn sát quân địch ở khắp các ngõ ngách.

Chúng bị đánh cho khiếp sợ, thận trọng lùng sục cả thành, muốn một mẻ hốt gọn chúng ta.

Cuối cùng cũng cầm cự được đến ngày thứ mười.

Trong lúc đối địch, ta rốt cuộc vẫn trúng đao.

Mãn Trụ Nhi cõng ta trên lưng, anh em vây thành một vòng, làm trận chiến sinh tử cuối cùng.

Ý thức của ta ngày càng mờ nhạt. Ta nghĩ, e là ta không còn được gặp lại Đồng Nhi nữa rồi.

Cô nương tốt, chính muội đã dạy ta thế nào là dũng cảm.

Xem này, ta thực sự đã rất dũng cảm đấy, tuy không giữ được thành nhưng đã thực sự thủ đủ mười ngày.

Muội nghìn vạn lần đừng cười nhạo ta là kẻ hèn nhát nhé.

Khi tỉnh lại, cha nương và Nguyệt Nhi đều đã vây quanh giường.

Hóa ra ngoại công đã kịp thời đến nơi vào phút chót, tiêu diệt toàn bộ quân địch, cứu mạng ta và Mãn Trụ Nhi.

Nhưng Đồng Nhi đâu rồi? Lúc hôn mê, ta rõ ràng đã nghe thấy giọng nói của muội ấy.

Muội ấy nói: “Đã dám lên trận giết giặc, chẳng lẽ không dám tranh mạng với Diêm Vương sao? Tranh được mạng về mới là bản lĩnh!”

Những ngày dưỡng thương rất vui vẻ vì ngày nào cũng được thấy Đồng Nhi.

Nhưng muội ấy thấy ta vẫn rất giữ lễ, khách sáo gọi ta là Thiếu gia.

Ta thầm nghĩ, con gái chắc hẳn là hay thẹn thùng, sau này ở bên nhau nhiều rồi sẽ tốt thôi.

Lúc Mãn Trụ Nhi và Nguyệt Nhi thành thân, ta vẫn còn phải ngồi xe lăn chưa đi lại được.

Ta nghĩ, tâm ý của ta đã rất rõ ràng rồi.

Bởi vì Đồng Nhi là người ta nghĩ đến nhiều nhất trên chiến trường.

Sự dũng cảm và kiên trì của muội ấy giống như một ngọn cờ, luôn dẫn lối cho ta tiến về phía trước.

Thế là không khỏi thầm tính toán, đợi khi khỏe hẳn sẽ nhờ nương đi hỏi vợ cho ta.

Dù sao người cũng đã đi hỏi cho Nguyệt Nhi một lần rồi, thì thêm một lần nữa cũng chẳng sao.

Sau khi trận chiến định giang sơn kết thúc, Bát vương gia đăng cơ tại kinh thành.

Người triệu tập chúng ta vào kinh để phong thưởng.

Ta tư tâm nghĩ rằng, nếu có thể phong chức Tướng quân rồi mới về cầu hôn, Đồng Nhi chắc sẽ vui hơn!

Trên Kim Loan điện, tân hoàng hạ chỉ phong ta làm Hoài Viễn tướng quân, phong Mãn Trụ Nhi làm Vũ Uy tướng quân.

Mọi người đều rất vui mừng, tạ ơn rồi trở về dịch trạm.

Nhưng còn chưa kịp định thần, tiểu thái giám lại mang tới tin tức ban hôn.

Muốn ta thành thân với tiểu thư nhà Định Quốc công.

Haizz, biết thế này thì đã chẳng chần chừ, làm xong xuôi mọi chuyện sớm có phải tốt không.

Ngoại công suy đoán rằng nhà Định Quốc công là danh gia vọng tộc trăm năm.

Hành động này của tân hoàng có lẽ là muốn tân quý và cựu tộc liên minh để cùng giữ vững giang sơn.

Bàn qua tính lại cũng chẳng ra kết quả gì tốt.

Ta và Mãn Trụ Nhi tuy đều được phong tướng, nhưng trong mắt tân hoàng thì vẫn như con kiến nhỏ, tùy ý có thể bóp chết.

Suốt một tháng sau đó, kinh thành nhộn nhịp rộn ràng.

Công thần mưu sĩ chúc mừng lẫn nhau, hồng trần tiêu sái, náo nhiệt vô cùng.

Chỉ có ta là không vui, cứ mãi nghĩ cách làm sao để thoái thác chuyện ban hôn.

Ngoại công nhìn ra sự khổ sở trên mặt ta, ông vỗ vai ta bảo: “Hay là nhận Đồng Nhi làm muội muội đi.”

Muội muội? Ta đâu có thiếu muội muội, ta đã có Nguyệt Nhi rồi, cần gì mà lắm muội muội thế?

Ta tuy thấy qua không nhiều cô gái, nhưng Đồng Nhi rất khác biệt với những người khác.

Muội ấy có nụ cười dịu dàng, đôi tay nhẹ nhàng, lúm đồng tiền trên mặt muội ấy luôn in sâu trong lòng ta.

Sưởi ấm trái tim ta trong mỗi đêm đông giá rét.

Nếu phát hiện thiếu chương hoặc bất kỳ vấn đề nào, hãy phản hồi cho tôi! :)