Chương 1 - Lời Hứa Giữa Mây Trời
Phu quân là các lão trẻ tuổi nhất đương triều, còn ta lại là vị phu nhân đến một chữ lớn cũng không biết.
Thích Trì ghét nhất những kẻ tầm thường thô tục, không chịu nổi mắt.
Vì muốn xứng với chàng, ta học đọc sách, luyện viết chữ.
Chàng lại lạnh lùng nói:
“Chỉ là kẻ tầm thường tự chuốc phiền não.”
Chàng không thân cận với ta, cũng chưa từng nhắc trước mặt người ngoài rằng mình có một vị phu nhân.
Ta biết chàng coi thường ta.
Nhưng ta vẫn cho rằng, dựa vào tình nghĩa bảy năm nương tựa lẫn nhau khi sa cơ lỡ vận, có lẽ rồi sẽ có một ngày ta sưởi ấm được trái tim chàng.
Cho đến ngày man di đánh vào kinh thành, chàng bảo vệ thanh mai trúc mã của mình, mặc cho ta bị vó sắt của quân man di giẫm dưới chân.
Ta mới hiểu, là ta sai rồi.
Chàng là mây trên trời, là ta cố chấp cưỡng cầu.
Trong lúc hấp hối, ta mơ hồ trông thấy Thích Trì lao về phía mình.
Máu nóng hổi vẩy lên người ta, chàng dường như chẳng biết đau, vẻ mặt hoảng hốt, bất lực gọi:
“Như Ý!”
Trước kia chàng chưa từng gọi ta như vậy, lúc nào cũng gọi cả họ, giống như muốn phân rõ giới hạn với ta.
Bây giờ còn cần gì nữa?
Nếu có thể sống lại một lần, ta chỉ mong sớm cùng quân hòa ly, từ đây mỗi người một ngả, đôi bên đều được an vui.
1
Ta quay về đúng ngày Thích Trì liên tiếp thăng ba cấp, trở thành đại học sĩ, bước vào nội các.
Tiền viện chiêng trống vang trời, hậu viện lại lạnh lẽo quạnh quẽ.
Vào những ngày thế này, ta không được phép ra gặp người khác, tránh làm mất mặt Thích gia.
Ta tìm thấy Thích Trì đang trở về thay y phục, đưa thư hòa ly đến trước mặt chàng.
“Ký đi.”
Chàng lạnh nhạt liếc qua:
“Đừng làm loạn.”
Ta không làm loạn.
Còn ba năm nữa mới đến ngày ta chết ở kiếp trước.
Ta đã không muốn tiếp tục lãng phí tháng ngày trên người chàng, ta phải tự giành lấy một con đường sống cho mình.
“Ta và chàng đã không còn xứng đôi.”
Thích Trì hơi nhíu mày, nhưng không phản bác câu này, chỉ nói:
“Nàng không có nơi nào để đi.”
Quả thực ta không có nơi nào để đi.
Nhưng chàng không biết, cho dù khắp thiên hạ này, ngoài Thích phủ ra không còn chốn nào dung thân, ta cũng không muốn bước lại con đường của kiếp trước thêm một lần nữa!
Thích Trì không ký thư hòa ly, cũng không nói thêm với ta một lời.
Chàng chỉ sa sầm mặt, trở vào phòng thay một chiếc ngoại sam, sau đó lại vội vàng đi đến tiền viện.
Trước khi đi, chàng không đuổi ta về viện của mình, coi như vẫn giữ lại cho ta một chút thể diện mỏng manh.
Ta nhìn thư hòa ly trong tay.
Chữ là do ta viết, xiêu xiêu vẹo vẹo, hẳn chẳng thể lọt vào mắt Thích Trì.
Nhưng cho dù như vậy, chàng cũng không hỏi ta lấy một câu:
Nàng biết viết chữ từ bao giờ? Là ai viết giúp nàng?
Rõ ràng mới hôm qua của kiếp này, ta vẫn là vị phu nhân không biết một chữ, còn bị thị nữ chế giễu ngay trước mặt chàng.
Chàng có khả năng xem qua là nhớ, bị trì hoãn bảy năm vẫn có thể trở thành đại học sĩ nội các trẻ tuổi nhất triều đại này, đương nhiên không thể không nhận ra điểm khác thường.
Chàng chỉ là không quan tâm, không để ý.
Tiền viện có đồng liêu của chàng, có thanh mai trúc mã của chàng.
Còn ta chẳng qua chỉ là một củ khoai nóng bỏng tay, cầm lên không được mà vứt đi cũng chẳng xong.
Ta tự giễu cười một tiếng, đặt thư hòa ly dưới chiếc chặn giấy, sau đó lấy hộp son dấu đã chuẩn bị sẵn trong tay áo ra, bôi lên bàn tay.
Khắp kinh đô đều nói Thích Trì là lang quân trong mộng của các khuê tú, là chàng rể như ý trong mắt phụ mẫu các nàng.
Tuổi trẻ tài cao, phong lưu tuấn tú.
Nhưng không ai biết, chàng có một vị phu nhân không biết một chữ, từng ở bên chàng suốt bảy năm mù lòa, giúp chàng chữa khỏi bệnh, yêu chàng cả một đời, cuối cùng lại rơi vào kết cục hài cốt không còn.
Cũng chẳng ai biết, bao năm si tâm của vị phu nhân ấy cuối cùng lại trao nhầm cho một tảng đá.
Ta nghiêm túc ấn một dấu tay thật rõ lên thư hòa ly.
Cứ để nó lại đây đi.
2
Kể từ khi bệnh tình khỏi hẳn, trở về Thích phủ, Thích Trì không còn ở cùng ta nữa.
Thiên viện của ta ngày thường chỉ có hai người.
Hôm nay công việc bận rộn, nha hoàn đã đến tiền viện, bà tử phụ trách quét dọn thường ngày cũng chẳng thấy bóng dáng, không biết là trốn việc hay đi uống rượu.
Một ngày thế này, quả thực thích hợp để rời đi.
Ta cũng chẳng có thứ gì đáng mang theo.
Y phục, trang sức được sắm sửa sau khi ta cùng Thích Trì trở về Thích phủ đều bị khóa trong chỗ của nha hoàn bên cạnh bà bà.
Những gì ta có chẳng qua chỉ là vài bộ y phục nửa mới nửa cũ, hai đôi giày cỏ, mấy trăm đồng tiền dành dụm nhiều năm và một cây trâm bạc đã ngả đen.
Đây chính là toàn bộ gia sản ta có thể mang đi.
Còn không bằng một nha hoàn trong Thích phủ.
Từ đầu đến cuối, ta chẳng qua chỉ là một Thích phu nhân hữu danh vô thực.
Kiếp trước ta đã sớm biết, cũng đã nhìn thấu, nhưng vì không nỡ rời bỏ Thích Trì, không hạ nổi quyết tâm nên mới rơi vào kết cục thê thảm.
Hiện giờ, ta đổi lại búi tóc, buộc kỹ tay nải, đeo lên lưng, lại dùng khăn bọc tay trái, khiến nó thoạt nhìn không khác người bình thường.
Cuối cùng, ta đứng trước chiếc gương đồng cao bằng cả thân người, ngắm thêm vài lần.
Ngoài mặt, thứ này cũng là của ta.
Nếu không phải quá nặng, ta thật sự muốn mang đi bán.
Ta quả thực quá nghèo.
Sau khi rời Thích phủ, số tiền trên người có lẽ chỉ đủ dùng vài ngày.
Nếu kế hoạch ấy không thành, e rằng ta sẽ phải lưu lạc đầu đường xó chợ.
Ta lưu luyến nhìn chiếc gương đồng lần cuối, rời khỏi căn nhà rách nát trong thiên viện, cạy ổ khóa đã rỉ mục ở cửa ngách, một chân bước ra ngoài.
Thật dễ dàng.
Tiểu viện đã giam cầm ta suốt ba năm ở kiếp trước, hóa ra chỉ cần bước một bước là có thể vứt lại sau lưng.
3
Thích gia nằm ở phía đông thành.
Ta đi gần nửa canh giờ mới đến được cửa chợ đông người nhất ngoại thành.
Nơi này xe ngựa như nước, người qua lại như mắc cửi.
Trên một bức tường chuyên dùng để dán cáo thị và thông báo tuyển người của các nhà quyền quý.
Tờ giấy ta muốn tìm hẳn nằm ở trên ấy.
“Cô nương biết chữ sao?”
Thấy ta xem xét từng tờ, một đại nương bày hàng bên cạnh lên tiếng bắt chuyện.
“Vâng, biết được vài chữ.”
Ta mỉm cười đáp.
Vào thời điểm này ở kiếp trước, ta chỉ nhận ra được tên mình.
Sau khi phu quân trở thành đại học sĩ nội các trẻ tuổi nhất đương triều, ta không muốn làm mất mặt chàng, nên cố lấy hơn nửa số tiền ít ỏi đã tiết kiệm bằng cách ăn dè mặc sẻn, nhờ một tiểu nha hoàn ra ngoài phủ mua cho ta một quyển Tam Tự Kinh.
Ta coi nó như trân bảo, ngày nào cũng đọc.
Nói ra quả thực buồn cười.
Mãi rất lâu sau đó ta mới biết quyển Tam Tự Kinh của ta khác với sách của phu quân.
Nó chỉ do một tú tài bình thường chép lại, chẳng đáng bao nhiêu tiền, phần lớn số bạc kia đã bị nha hoàn tham mất.
May mà nó do một tú tài bình thường chép.
Bên cạnh mỗi chữ đều được dùng than vẽ vài hình ảnh có âm đọc tương tự, khiến việc học của ta không quá gian nan.
Ta học ngắt quãng suốt ba năm, học xong quyển Tam Tự Kinh ấy cùng hơn nửa quyển Thiên Tự Văn.
Ta còn từng nghĩ, nếu học xong Thiên Tự Văn, có lẽ ta có thể dày mặt nhờ phu quân dạy mình cầm bút.
Kết quả đến khi chết cũng không chờ được.
Hiện giờ nghĩ lại, có một vị các lão làm phu quân đại khái cũng chẳng có tác dụng gì.
Tự mình biết đọc sách, viết chữ, ngược lại còn hữu dụng sang tận kiếp sau.
Tìm suốt một khắc, cuối cùng ta cũng phát hiện tờ giấy mình muốn trong những lớp thông báo dán chồng chất.
Ta cẩn thận xé xuống, lại tìm một chiếc xe lừa rẻ nhất gần đó.
“Ta muốn ra khỏi thành.”
“Cô nương sao lại nghĩ đến chuyện tới Chung gia trang? Chẳng lẽ đã bóc thông báo tuyển người của nhà ấy?”
Trên đường đi, xa phu nói chuyện phiếm với ta.
Ta gật đầu:
“Đúng vậy.”
“Công việc nơi ấy không dễ làm đâu.”
“Vì sao?”
“Thị nữ, tôi tớ, xa phu, tạp dịch, đều chưa làm được một tháng đã bỏ chạy. Hai tháng nay chẳng còn bao nhiêu người muốn tới nữa.”
“Chẳng lẽ có ẩn tình gì?”
Xa phu do dự một lát:
“Nghe nói Chung gia trang không sạch sẽ. Nửa đêm canh ba thường có tiếng quỷ gào.”
Hóa ra vào lúc này đã có lời đồn Chung gia trang bị ma ám.
Thấy ta im lặng, xa phu đại khái nhận ra mình lỡ lời, sợ ta hoảng sợ đổi ý không đi nữa, vội vàng chữa lại:
“Nếu đang cần tiền thì đến đó cũng tốt, tiền công ở đó cao lắm!”
Ta cười:
“Vừa hay ta đang thiếu tiền.”
Ta cúi đầu nhìn bàn tay trái được bọc kín.
Cho dù ta nói mình đến đó là vì tương lai không muốn chết sau ba năm nữa, là vì muốn thử xem có thể cứu được bá tánh thiên hạ hay không, đại khái cũng chẳng có ai tin.
Ta đã quen rồi.
Không ai tin đôi mắt của Thích Trì khỏi được là nhờ ta ngày đêm chăm sóc, dựa theo bí pháp Thích gia tìm được mà từng bước học hỏi, thử nghiệm.
Bọn họ thà tin ta được mua về có mệnh cách Thiên Lương nhập mệnh, có thể khiến Thích Trì không cần thuốc cũng tự khỏi.
Cũng vì như vậy, sau khi đôi mắt Thích Trì khỏi hẳn, Thích gia không lập tức hưu ta, ngược lại còn để ta chiếm vị trí Thích phu nhân thêm hơn ba năm.
Hiện giờ, ta muốn thử xem mình rốt cuộc có thể nghịch thiên cải mệnh hay không!
4
“Cô nương tới thật đúng lúc.”
Ta không ngờ chỉ đến làm một thị nữ mà lại có quản gia đích thân ra đón.
“Trong trang đang thiếu người. Cô nương từng làm thị nữ thiếp thân chưa?”
Ta là phu nhân của Thích Trì, nhưng từ nhỏ đến lớn lại làm toàn công việc của thị nữ, vì vậy thản nhiên đáp lời quản gia:
“Đã làm bảy năm.”
“Có từng chăm sóc người bệnh?”
Thích Trì mù suốt bảy năm.
“Đã chăm sóc bảy năm.”
Quản gia vỗ đùi:
“Rất tốt! Mỗi tháng ba lượng bạc, tính tiền theo số ngày, hiện giờ liền đi làm đi.”
Ta không ngờ chuyện này lại thuận lợi đến vậy, ngay cả tên cũng không cần hỏi sao?
Tiền công còn cao gấp mấy lần nơi khác.
Ban đầu ta còn tưởng phải chăm chỉ làm việc một thời gian mới có thể gặp chủ nhân, không ngờ lại dễ dàng đến vậy.
Nhưng sau khi đến hậu viện, ta lập tức hiểu nguyên do.
Khác với tiền viện sạch sẽ ngăn nắp, viện tử ta vừa tới chẳng khác gì một đống phế tích.
Vại nước trong sân đã vỡ, bàn ghế đá bị lật đổ, ngay cả hoa cỏ cũng bị phá nát hoàn toàn.
Cảnh tượng này ta lại vô cùng quen thuộc.
Năm xưa, khi ta và Thích Trì vừa thành thân, nơi ở của chúng ta cũng thế này.
Bởi vì không nhìn thấy nên tính tình chàng vô cùng nóng nảy.
Tuy không trực tiếp trút giận lên người ta, nhưng lại phá tan hoang cả trong lẫn ngoài tiểu viện khi ấy.
Lúc đó chàng là đứa con bị Thích gia ruồng bỏ, không có thị nữ, chỉ có một mình ta thu dọn tàn cuộc.
Ta thường tức đến mức vừa khóc vừa thầm mắng chàng trong lòng.
Sau này, thời gian mù lòa càng lâu, con người chàng cũng càng lạnh lùng, ngược lại không còn hơi người như lúc ấy.
Nhiều năm trôi qua hôm nay lại nhìn thấy cảnh tượng này, ta lại có đôi chút hoài niệm.
“Tất cả đều do ta thu dọn sao?”
“Không cần.”
Quản gia giống như sợ dọa ta bỏ chạy, vội nói:
“Cô nương chỉ cần thu dọn trong phòng là được! Việc trong sân do tiểu tư phụ trách.”
Nói xong, ông ta chẳng cần thông báo, dẫn ta đi thẳng vào trong.
Như thế này cũng quá không coi trọng lễ nghi rồi.
Lỡ bên trong còn có người khác thì sao…
Quả nhiên sợ điều gì liền gặp điều ấy.
Còn chưa vào cửa, ta đã nghe thấy bên trong có người nói: