Chương 6 - Khi Đứa Trẻ Câm Được Sinh Ra
4
Lãnh cung — nơi còn tồi tàn hơn cả chùa Linh Ẩn.
Ta cố ý chọn viện xa nhất trong hậu cung để giao cho Thẩm Ngọc Dao.
Giếng trong viện đã cạn khô nhiều năm, cỏ dại mọc cao hơn người.
Mái hiên dột nát, vách tường bong tróc, chuột nhắt chạy rầm rầm trên xà nhà không chút kiêng dè.
“Niên nương… không, thứ dân Thẩm thị,” tên thái giám dẫn đường cố ý the thé giọng nói,
“Thái hậu nhân từ, cho phép người và Nhị hoàng tử ở đây. Mỗi ngày sẽ có người mang cơm đến, người cứ yên tâm ở lại mà suy xét lỗi mình.”
Thẩm Ngọc Dao ôm đứa con trai câm đứng giữa sân, đảo mắt nhìn quanh, trong mắt là nỗi sợ hãi không chút che giấu.
“Đây chẳng phải là chỗ tồi tệ nhất trong lãnh cung sao?” Giọng nàng run rẩy, “Cả giấy dán cửa sổ cũng rách tươm…”
“Khi năm xưa người đưa Thái hậu tới chùa Linh Ẩn, chẳng phải cũng chọn thiền phòng tệ nhất sao?” Thái giám nhe răng cười, lạnh lẽo đến đáng sợ,
“Thái hậu nói rồi, lệnh người mỗi sáng phải quỳ trong sân tụng kinh trăm lượt, cầu phúc cho Thái hậu và Hoàng thượng. Đây vốn là quy củ năm đó do người lập nên mà.”
Sắc mặt Thẩm Ngọc Dao tái nhợt tức khắc.
Hồn phách Chu Hành Chi bồn chồn quanh nàng: “Ngọc Dao! Đừng sợ, trẫm ở đây!”
Đáng tiếc, nàng không nghe thấy.
Người trong cung vốn giỏi nhìn sắc gió.
Năm xưa họ nâng Thẩm Ngọc Dao để giẫm đạp ta ra sao, nay lại ra sức nâng ta đạp nàng còn tàn nhẫn hơn xưa.
Tháng đầu tiên, cung nữ mang cơm “vô tình” đánh đổ cả mâm, bảo Thẩm Ngọc Dao tự mình nhặt lên mà ăn.
“Thứ dân Thẩm thị, người không biết dạo này trong cung chi phí lớn, lương thực quý giá lắm sao?” Cung nữ cười dịu dàng nói, “Thái hậu căn dặn rồi, không được lãng phí.”
Thẩm Ngọc Dao nhìn mâm cơm dính đầy bùn đất dưới đất, rồi lại nhìn đứa trẻ trong lòng đang đói khóc ngằn ngặt, cuối cùng vẫn quỳ xuống, dùng tay nhặt cơm lại.
Chu Hành Chi bên cạnh gào thét đau đớn: “Đừng! Ngọc Dao, đừng ăn!”
Nhưng nàng không nghe được, vừa khóc vừa đưa từng nắm cơm bẩn vào miệng.
Ta đứng dưới hành lang ngoài lãnh cung, lặng lẽ nhìn cảnh đó.
Năm xưa nàng sai người ném bánh bao xuống đất rồi lấy chân giẫm qua ép ta ăn — khi ấy, nàng còn ra tay nhanh gọn hơn bây giờ nhiều.
Tháng thứ hai, mùa đông kéo đến.
Việc cung ứng than sưởi ở lãnh cung “vô tình” xảy ra sai sót, nửa tháng không có lấy một viên than được đưa đến.
Thẩm Ngọc Dao cùng con co ro trong tấm chăn rách nát, cả hai tay đều bị cước lạnh đến loét da.
Nàng ôm con đến cầu xin đám thái giám giữ cửa, quỳ trên tuyết dập đầu: “Van xin các người, cho đứa nhỏ chút than đi, nó sẽ chết cóng mất…”
Đám thái giám vừa bóc hạt dưa vừa cười: “Thứ dân Thẩm thị, chẳng phải người từng nói ‘bị cước không chết người’ sao? Sao giờ lại sợ rồi?”
Nàng quỳ suốt một canh giờ, cuối cùng ngất xỉu trong tuyết.
Chính đứa con câm của nàng đã bò ra khỏi sân, được người phát hiện, mới miễn cưỡng xin được mấy cục than ẩm.
Than ẩm cháy lên toàn khói, hun cho hai mẹ con ho sặc, nước mắt nước mũi đầm đìa.
Trong lúc đó, ta ngồi trong ôn các, nghe cung nữ báo cáo, tay cầm lò sưởi, lòng ôm lấy Vĩnh An.
“Mẫu hậu,” Vĩnh An ngẩng đầu nhìn ta, “sao Thẩm nương nương và con nàng ấy phải chịu lạnh vậy?”
“Bởi vì khi xưa, mẫu hậu và con, cũng từng bị lạnh đến vậy.” Ta nhẹ giọng đáp, “Chỉ là chúng ta còn thảm hơn. Dù gì thì họ vẫn có chút than ẩm, còn ta và con, đến một làn khói cũng không có.”
Vĩnh An mơ hồ gật đầu, bàn tay nhỏ nắm chặt lấy tay ta: “Vậy giờ mẫu hậu đã ấm chưa?”
“Ấm rồi.” Ta mỉm cười, “Có Vĩnh An bên cạnh, mẫu hậu lúc nào cũng ấm.”
Tháng thứ ba, Thẩm Ngọc Dao đổ bệnh.
Sốt cao không dứt, ho không ngừng — y hệt cơn bệnh giả vờ của nàng năm xưa ở Dưỡng Tâm điện.
Thái y “tình cờ” ai cũng bận, chẳng ai chịu vào lãnh cung khám bệnh cho một thứ dân.
Nàng sốt đến mê man, nắm tay đứa con câm, lặp đi lặp lại gọi: “Hành Chi… Hành Chi, chàng ở đâu, cứu ta…”
Linh hồn Chu Hành Chi quỳ gối bên giường, vô vọng đưa tay chạm trán nàng: “Ngọc Dao, trẫm ở đây, trẫm ở ngay đây…”
Bàn tay hắn xuyên qua thân thể nàng.
Hắn đột nhiên ngẩng đầu nhìn ta, trong mắt lần đầu hiện lên thứ cảm xúc khác ngoài khẩn cầu.
Đó là — sự bất lực sâu thẳm.
“Cố Thu Nguyệt,” hắn bay tới trước mặt ta, “cầu xin nàng, mời thái y cho nàng ấy. Nàng ấy sẽ chết mất.”
Ta không đáp, vẫn tiếp tục phê duyệt tấu chương.
“Trẫm biết sai rồi!” Giọng hắn khản đặc, “Năm xưa trẫm không nên đối xử với nàng như vậy! Nhưng nàng muốn báo thù trẫm cũng được, cớ gì phải hành hạ Ngọc Dao? Nàng ấy chỉ là một nữ tử yếu ớt…”
Ta đặt bút xuống, ngẩng mắt nhìn hắn:
“Chu Hành Chi, năm xưa ta bệnh trong chùa Linh Ẩn, chàng ở đâu?”
Hắn sững người.
“Ta đã viết thư lần này đến lần khác, nói máu dưới thân ta chảy suốt hơn một tháng, nói ta sốt cao không lui.” Ta nói từng chữ rõ ràng,
“Chàng có từng cho người mời thái y đến không? Có từng đưa ta một thang thuốc không?”
Hắn mấp máy môi, lại chẳng thốt ra được lời.
“Không có.” Ta thay hắn trả lời,
“Lúc đó chàng đang bận cùng tân hoàng hậu bắn pháo hoa, mừng tân hôn. Chàng chưa từng đọc những bức thư đó. Hoặc cũng có thể, Thẩm Ngọc Dao căn bản chưa từng đưa cho chàng xem.”
Linh hồn Chu Hành Chi run rẩy kịch liệt, sắp tan thành từng làn khói.
“Thế nên bây giờ,” ta cầm lại bút, “cũng đừng đến cầu ta nữa.”
Thẩm Ngọc Dao rốt cuộc vẫn sống sót.
Nàng ta sống sót, dựa vào những gáo nước lạnh mà đứa con câm ngày ngày ra giếng khô múc về lau mình hạ sốt, và vài mẩu lương khô lén tích trữ được.
Dựa vào một niệm tưởng duy nhất trong lòng — “không thể chết, chết rồi con phải làm sao”.
Giống hệt như ta năm ấy.
Hôm Thẩm Ngọc Dao vượt qua được cơn bệnh, ta sai người mang đến hai bát cháo loãng.
Thái giám mang cháo tới nói:
“Thái hậu nói, thứ dân Thẩm thị bệnh khỏi, là trời thương xót. Ban cho hai bát cháo để chúc mừng.”
Thẩm Ngọc Dao nhìn hai bát cháo trong vắt có thể soi bóng người, bỗng nhiên bật cười, mà càng cười, lại càng khóc to hơn.
“Cố Thu Nguyệt… ngươi thật là tàn nhẫn…”
Giết người, không gì thâm độc bằng giết vào tim.
Chu Hành Chi đứng bên cạnh nàng, nhìn nàng vừa khóc vừa đem cháo đút cho con, còn bản thân chỉ uống nửa bát.
Hắn thì thào như tự nói với chính mình:
“Nếu năm đó, trẫm đối xử tốt với Thu Nguyệt một chút… thì hiện giờ liệu có phải…”