Chương 8 - Hành Trình Của Tiểu Nương Tử
Một buổi chiều, trong tiệm không còn mấy khách. Ta đang ngồi xổm ở hậu viện nhặt hẹ thì nghe phía trước vang lên một giọng nói quen thuộc:
“Ôn nương tử có ở đây không?”
Ta sửng sốt, đặt hẹ xuống, lau tay rồi đi ra phía trước.
Trong tiệm có một người đang đứng. Ông mặc trường bào vải xám đã giặt đến bạc màu, tóc hoa râm, lưng hơi còng, trong tay xách một gói đồ.
Là Vương đại phu.
Ta đứng sững, nhất thời không thốt nên lời.
Kể từ đêm Chân gia gặp chuyện, ông đưa ta rời đi bằng cửa sau, ta chưa từng gặp lại ông.
Ta thường xuyên nhớ tới ông. Nếu không có gói bạc vụn ông nhét cho ta khi ấy, giữa thành Biện Kinh rộng lớn này, một cô nhi như ta còn mang theo Noãn Nhi, thật không biết phải chống đỡ thế nào.
“Vương đại phu… sao người tìm được nơi này?”
Vương đại phu cười, đặt đồ trong tay lên bàn. Đó là một gói bánh hoa quế và mấy gói dược liệu.
“Năm ấy xảy ra chuyện, ta cũng bị liên lụy, phải vào ngục mấy tháng. May về sau điều tra rõ ta không liên quan mới được thả. Những tháng trong lao làm thân thể ta suy yếu, cháu trai trong nhà đưa ta về quê tĩnh dưỡng, gần đây ta mới trở lại Biện Kinh. Vừa về đã nghe người ta nói ở Tây Nhai có một tiệm Hoành Thánh Ôn Ký rất ngon, chủ tiệm là một tiểu nương tử trẻ tuổi. Ta đoán hẳn là ngươi, nên tới xem.”
Ông nhìn quanh cửa hàng, gật đầu:
“Không tệ, còn tốt hơn ta nghĩ.”
Ta vội mời ông ngồi, rót trà, rồi gọi Liễu di và Dao Nhi ra.
Liễu di vừa bước ra, nhìn thấy Vương đại phu, vành mắt đã đỏ.
Bà đi tới trước mặt ông, cúi người hành một đại lễ, giọng nghẹn ngào:
“Vương đại phu, năm đó nếu không có ông, Noãn Nhi nó…”
Vương đại phu vội đỡ bà:
“Phu nhân đừng nói vậy. Lão hủ chỉ động miệng đôi câu. Người thật sự đưa đứa trẻ đi là Ôn nha đầu, nuôi lớn nó cũng là Ôn nha đầu. Lão hủ không nhận nổi lời cảm tạ này.”
Dao Nhi cũng bước tới hành lễ với ông.
Vương đại phu nhìn họ, thở dài:
“Tốt, tốt. Mọi người đều bình an là tốt rồi.”
Noãn Nhi từ hậu viện chạy ra, tới trước mặt Vương đại phu, ngẩng đầu nhìn ông, nghiêng đầu hỏi:
“Gia gia, người là ai?”
“Ta sao?”
Vương đại phu ngồi xổm xuống, cười hiền nhìn nàng:
“Ta là bằng hữu cũ của A tỷ con.”
Noãn Nhi suy nghĩ rồi hỏi tiếp:
“Người có mang đồ ngon tới không?”
Ta vội kéo Noãn Nhi sang bên, khẽ vỗ mông nàng:
“Không có quy củ.”
Vương đại phu bật cười ha hả, tiếng cười vang dội, chẳng giống một lão nhân chút nào.
Ông lại lấy trong tay áo ra một gói kẹo, nhét cho Noãn Nhi:
“Có mang, có mang. Biết nơi này có một con mèo nhỏ tham ăn, ta cố ý mang tới.”
Noãn Nhi ôm gói kẹo, cười đến không còn thấy mắt.
Tối hôm ấy, Vương đại phu dùng cơm trong tiệm.
Ta nấu một nồi hoành thánh lớn, xào thêm hai món. Liễu di hấp một nồi màn thầu, Dao Nhi thái một đĩa thịt kho.
Ăn xong, Vương đại phu lần lượt dặn Liễu di cách dùng những dược liệu ông mang tới:
“Gói này bổ khí huyết, gói này an thần, gói này điều dưỡng tỳ vị. Thân thể phu nhân đã suy yếu quá nhiều, phải từ từ bồi bổ, không thể nóng vội. Mỗi ngày sắc một thang, sáng tối uống mỗi lần một bát. Uống hết ta lại mang tới.”
Liễu di nhận dược liệu, vành mắt lại đỏ, liên tục nói lời cảm tạ.
Khi Vương đại phu ra về, ta tiễn ông tới cửa.
Gió đêm lành lạnh, trên phố đã không còn mấy người, chỉ có vài tiếng chó sủa từ xa vọng lại.
Vương đại phu đi được vài bước, bỗng dừng lại quay đầu nhìn ta.
“Ôn nha đầu,” ông nói, “ngươi thật giỏi giang.”
Ta ngẩn ra:
“Ý người là sao?”
“Ý ta là, ngươi đã chăm sóc họ rất tốt.”
Ông nhìn ta:
“Năm ấy khi giao Noãn Nhi cho ngươi, thật ra trong lòng ta cũng chẳng chắc chắn. Ngươi chỉ là một cô nương mười mấy tuổi, bản thân còn chưa chắc ăn no, làm sao nuôi được một đứa trẻ còn bú sữa? Vậy mà ngươi không hề từ chối, lập tức đồng ý.”
Nói xong, ông quay người rời đi, lưng còng xuống, chậm rãi khuất trong bóng đêm.
Về sau, cứ mười ngày nửa tháng Vương đại phu lại tới một lần. Có lúc ông mang dược liệu, có lúc mang bánh trái, cũng có lúc chỉ tới ngồi một lát, ăn một bát hoành thánh rồi trò chuyện với Liễu di.
Những điều ông nói với Liễu di phần lớn là chuyện cũ: chuyện Chân đại nhân ở triều đình, cảnh huy hoàng của Chân gia năm xưa, và tung tích những người quen cũ trong thành Biện Kinh.
Khi nói tới những chuyện ấy, vẻ mặt Liễu di rất bình tĩnh, tựa như đang kể chuyện của người khác.
Nhưng ta biết trong lòng bà không phải không đau, chỉ là không muốn biểu lộ trước mặt chúng ta.
Có một lần, sau khi Vương đại phu rời đi, Liễu di ngồi dưới cây hòe già trong hậu viện, ngẩn người rất lâu.
Ta bưng cho bà một bát canh ngân nhĩ. Bà nhận lấy, uống một ngụm rồi bất chợt hỏi:
“Nha đầu, ngươi nói xem, Chân bá phụ của ngươi… ông ấy còn sống không?”
Ta im lặng một lúc.
Dao Nhi cũng thường hỏi ta câu này.
Mỗi lần ta đều nói “còn sống”, nhưng thật ra ta cũng không biết.
Thanh Hải xa như vậy, lại lạnh như vậy…
11
Đầu tháng Mười Một, Biện Kinh đã đón trận tuyết đầu tiên.
Tuyết không lớn, vụn nhỏ như hạt muối rắc xuống, vừa chạm đất đã tan.
Trong tiệm đốt than, ấm áp dễ chịu.
Trên ván cửa treo một tấm rèm bông do Liễu di sửa từ chăn cũ. Tuy không đẹp, nhưng có thể chắn gió.
Nồi nước hầm xương trên bếp sôi từ sáng tới tối, hơi nóng bốc lên khiến cả gian tiệm ấm sực.
Mùa đông, việc làm ăn còn tốt hơn mùa hè.
Trời lạnh, ai cũng muốn ăn một món nóng hổi.
Một bát hoành thánh vào bụng, cả cái lẫn nước, ăn đến toát mồ hôi. Khi bước ra ngoài, gương mặt người nào cũng đỏ hồng.
Mỗi ngày có thể bán hơn ba trăm bát, nhiều hơn mùa thu gần một nửa.
Nhưng mùa đông cũng có nỗi khổ của mùa đông. Khó chịu nhất chính là cái lạnh.
Ban đêm tuy có đốt giường sưởi để ngủ, nhưng củi vừa cháy hết, hơi nóng sẽ dần tản đi. Nửa đêm về sáng, giường lạnh ngắt, trong phòng cũng buốt thấu xương.
Chúng ta thường phải khoác áo, lần mò trong bóng tối tới bếp thêm mấy nắm củi. Đợi giường ấm trở lại cũng mất một lúc lâu.
Thân thể Liễu di rất sợ lạnh.
Trời vừa trở rét, các khớp của bà liền đau, nhất là đầu gối và ngón tay. Đau đến mức ban đêm trở mình không ngủ được.
Vương đại phu kê phương thuốc, bảo bà dùng ngải cứu ngâm tay chân, lại rang nóng muối hạt đắp lên đầu gối. Làm vậy có thể dịu bớt, nhưng rốt cuộc không thể chữa dứt.
Về sau, chúng ta dứt khoát chen nhau ngủ trong gian phòng nhỏ của ta.
Phòng nhỏ nên giữ được hơi ấm, giường sưởi cũng nóng hơn.
Chúng ta còn dùng vải cũ dán kín khe cửa sổ để chắn gió lạnh. Bốn người chen chúc trên một chiếc giường, quấn chăn sát bên nhau, trái lại còn ấm hơn ngủ riêng rất nhiều, ban đêm cũng yên giấc hơn.
Tháng Chạp lạnh lẽo, trong tiệm vẫn ấm áp.
Một ngày nọ, có một lão phu nhân ngoài sáu mươi bước vào. Khí độ bà trầm ổn, dường như xuất thân từ gia đình phú quý, nhưng bên cạnh không có ai đi cùng.
Bà đứng ngoài cửa một lúc, lặng lẽ quan sát cách bày biện trong tiệm, sau đó mới chậm rãi bước vào, chọn một góc bàn gần cửa sổ ngồi xuống.
Ta vội bước tới tiếp đón:
“Lão nhân gia, người muốn dùng gì?”