Chương 1 - Dòng Máu Của Kẻ Đào Binh

🔥 Mời bạn theo dõi page Đậu Xanh Rau Má để đọc sớm nhất các truyện mới nhất!

Phu quân cùng cha chồng tử trận, mẹ chồng khóc lóc đến gần đứt hơi, ta lại tức tốc đến quan phủ xóa tên họ trong hộ tịch.

“Con dâu, sao con lại làm thế này—”

Chẳng đợi bà nói hết câu, ta nắm chặt lấy tay bà, khẩn khoản: “Mẫu thân, chúng ta mau chóng đem nhà cửa, tiệm xá bán sạch đi thôi!”

“Nhưng bán rồi thì ta biết ở nơi nao…”

Ta trừng mắt nhìn bà: “Tự nhiên là cầm bạc mà cao chạy xa bay!”

“Nhưng nếu cha chồng ông ấy vạn nhất—”

“Không có vạn nhất nào cả, chẳng lẽ mẫu thân còn muốn thay ông ta nuôi ba mụ di nương kia sao?”

Mẹ chồng nghiến răng ken két, quay người lục tung hết thảy cổ vật, thư họa quý giá mà cha chồng dày công sưu tầm bao năm qua ra ngoài.

“Con dâu, những thứ này còn đáng giá hơn cả nhà cửa tiệm xá! Mau, mau đem đi cầm cố hết cho ta!”

Ba năm sau, hai cha con kẻ giả chết nay quay về, đứng trước phủ đệ đã đổi chủ, gương mặt không giấu nổi vẻ kinh hoàng.

1.

Ta trùng sinh vào đúng ngày cáo phó gửi đến phủ.

Mẹ chồng ta suy sụp trên ghế, môi run rẩy hồi lâu mà không thốt nên lời.

Ta không làm như kiếp trước là ra sức an ủi bà, mà quay người bước ra cửa, thẳng tiến quan phủ.

Viên chủ bộ trong phủ nhìn văn thư ta trình lên, ngẩn người hồi lâu.

“Cố phu nhân, xóa hộ tịch chi sự chẳng cần vội vã đến thế, biết đâu hai người họ vẫn còn hy vọng sống sót?”

Ta đập mạnh cáo phó xuống bàn, hốc mắt đỏ hoe:

“cha chồng và phu quân nhà ta đều đã tử trận. Theo luật Đại Lương, nam đinh tử trận được nhận tiền tuất. Ta là người duy nhất có thể chống đỡ Cố gia, phải biết lo cho người còn sống chứ!”

Chủ bộ nhíu mày nhìn ta hồi lâu, nhưng xét về luật pháp không tìm ra kẽ hở, cuối cùng đành đóng dấu phê chuẩn.

2.

Trở về Cố phủ, ta cho giải tán hết thảy nha hoàn, tiểu sai, tự tay đóng sập cánh cửa sơn son thếp vàng.

Kiếp trước, khi cáo phó báo tin Cố Hoằng Viễn và Cố Cảnh Thâm tử trận sa trường, mẹ chồng ta khóc đến ngất đi.

Ta nghiến răng gánh vác cả Cố gia, thắt lưng buộc bụng nuôi dưỡng mấy chục miệng ăn trong phủ, bao gồm cả ba mụ di nương của cha chồng và một tiểu thiếp của phu quân.

Ta đã gắng gượng suốt ba năm.

Ba năm sau, thứ ta đợi được không phải là ngày tháng an bình, mà là hai cha con họ bình an trở về, không một vết xước.

cha chồng Cố Hoằng Viễn dẫn theo Triệu quả phụ — con gái một phú thương Giang Nam — đi phía trước, vẻ mặt hăng hái.

Còn phu quân ta, Cố Cảnh Thâm, theo sau cùng, tay trong tay với vị hôn thê mới, cũng chính là cháu gái của Triệu quả phụ.

Cố Hoằng Viễn nói, họ bị lạc nhau trên chiến trường, lưu lạc đến Giang Nam, nhờ nhà họ Triệu cứu mạng. Để báo ân, ông ta cưới Triệu thị làm vợ, sinh được một con; còn Cố Cảnh Thâm định cưới cháu gái Triệu thị làm bình thê, nên về phủ chuẩn bị hôn lễ.

Khi ấy, ta ngây thơ cho rằng cha con họ trải qua sóng gió mới giữ được mạng, đối tốt với ân nhân là lẽ đương nhiên.

Nhưng về sau ta mới biết, hai cha con họ chẳng phải tử trận, mà là đào binh!

Họ vốn định giả chết để thoát thân, đến Giang Nam cưới vợ tiêu dao, nhưng tiền riêng Cố Hoằng Viễn giấu ngoài kia không đủ cho ông ta hoang phí. Lúc đường cùng, ông ta mới nhớ ra ở kinh thành còn một mái nhà, bèn dẫn theo cô cháu nhà họ Triệu nghênh ngang trở về.

Sau đó, để lấy lòng tình mới, Cố Hoằng Viễn tước quyền chủ mẫu của mẹ chồng ta, để Triệu thị nắm quyền quản gia.

Mẹ chồng ta, một người gần nửa thế kỷ, bị ép phải hầu hạ đứa con nhỏ của Triệu thị. Trời chưa sáng đã phải dậy nấu cháo, nửa đêm phải dậy bưng bô. Vậy mà Triệu thị vẫn chê bà chậm chạp, hở chút là đánh chửi.

Có lần, giữa mùa đông giá rét, Triệu thị xô ngã bà giữa sân, dội một xô nước lạnh lên người, bắt bà quỳ suốt một đêm ròng.

Ngày hôm sau, bà lên cơn sốt cao, mê man ba ngày ba đêm, vậy mà Triệu thị đến một thầy thuốc cũng không chịu mời.

Khi ta vào thăm, bà co quắp trên chiếc giường ván cứng ở viện hẻo lánh, môi khô nứt nẻ, vẫn nắm lấy tay ta mà nói:

“Không sao, ráng chịu đựng chút là qua thôi.”

Nhưng bà đã không qua khỏi.

Mùa đông năm ấy, mẹ chồng ta chết trong căn viện lạnh lẽo. Triệu thị chê xúi quẩy, dùng một chiếc chiếu rách gói lại, khiêng ra cửa sau, đến một chiếc quan tài tử tế cũng không có.

Còn Cố Cảnh Thâm, nửa năm sau lấy lý do ta không con lại hay ghen tuông mà hưu ta.

Nhà ngoại ta không dám đắc tội Cố gia, liền tống ta vào chùa gia tộc. Ta nằm trong căn nhà dột nát suốt ba tháng, mỗi ngày một bát cháo loãng cầm cự, cuối cùng chết vào một đêm mưa, đến mắt cũng chẳng thể nhắm nghiền.

Vì thế, kiếp này, ngay khi cáo phó vừa tới, ta lập tức đến quan phủ xóa hộ tịch.

Như vậy, dù họ có từ Giang Nam sống sót trở về, cũng chỉ là những kẻ không hộ tịch, là dân đen không danh phận. Quan trọng hơn, thân phận đào binh một khi bại lộ sẽ bị tru di cửu tộc. Ta xóa hộ tịch của họ, chính là cắt đứt mọi liên hệ giữa họ và chúng ta, để sau này sự việc vỡ lở cũng chẳng thể liên lụy đến ta và mẫu thân.

3.

Mẹ chồng ta vẫn ngồi sững sờ trên ghế chính đường, môi mấp máy. Ta vừa bước qua ngưỡng cửa, bà chợt chồm tới, nắm chặt lấy cổ tay ta.

“Tuế Ninh, con đến quan phủ… không lẽ là… xóa hộ tịch của họ?”

“Phải, con xóa rồi.”

Môi bà run rẩy dữ dội hơn: “Con… con có biết đây là chuyện lớn nhường nào không?”

“Mẫu thân, họ chết rồi.”

Ta nắm ngược lại tay bà: “Cáo phó của Binh bộ viết rõ rành rành, Cố Hoằng Viễn, Cố Cảnh Thâm, trận vong tại trận Bạch Hà Độ vùng Bắc Cảnh.”

Mẹ chồng ta há miệng, lệ trào ra: “Nhưng… nhưng vạn nhất họ còn sống thì sao? Vạn nhất cáo phó sai thì sao? Vạn nhất họ trở về—”

“Trở về?”

Ta cười nhạt: “Mẫu thân, kẻ đào binh mà trở về là bị chém đầu đấy.”

Mẹ chồng ta rúng động toàn thân.

“Không chỉ chém đầu họ, theo luật Đại Lương, gia quyến kẻ đào binh, nam đinh phải sung quân, nữ quyến phải vào Giáo Phường Tư. Mẫu thân tuổi tác đã cao, người có muốn vào Giáo Phường Tư không?”

Sắc mặt mẹ chồng ta trong phút chốc trở nên trắng bệch. Bà xuất thân từ gia đình thư hương, cả đời coi trọng lễ nghi, thể diện, việc vào Giáo Phường Tư đối với bà còn khủng khiếp hơn cả cái chết.

Bà lảo đảo một bước. Ta đỡ lấy bà, dìu vào nội thất rồi đóng cửa lại.

“Mẫu thân, họ đã chết rồi, chúng ta phải lo đường lui cho mình.”

“Nhưng… nhưng mà—”

“Không có nhưng nhị gì hết.”

Ta dìu bà ngồi xuống cạnh sập, quỳ xuống ngước nhìn bà.

“Mẫu thân, có những chuyện, hôm nay người phải nghĩ cho thông suốt.”

“Năm xưa khi người sinh Cảnh Thâm bị khó sinh, băng huyết trầm trọng, nhưng cha chồng chỉ buông một câu ‘cứu con’, rồi quay sang phòng bên cạnh mây mưa với Trương di nương suốt một đêm, có đúng không?”

Mẹ chồng ta sững sờ. Nước mắt vẫn còn trên mặt, nhưng sâu trong đáy mắt đã cuộn trào hận thù.

“Chuyện này… sao con biết?”

Ta không trả lời, nói tiếp: “Không chỉ một chuyện đó. Số ngân phiếu hồi môn người giấu trong ngăn bí mật của bàn thờ Phật, tổng cộng là tám ngàn bảy trăm lượng.”

Bà trợn tròn mắt.

“người hãy tự đi xem, xem hiện giờ còn lại bao nhiêu.”

Mẹ chồng ta lảo đảo lao đến trước bàn thờ, cuống cuồng mở ngăn bí mật, lôi gói vải dầu dưới đáy ra. Bà đếm một lần, rồi lại đếm lần thứ hai.

“Rõ ràng vẫn còn đây mà…”

Nếu phát hiện thiếu chương hoặc bất kỳ vấn đề nào, hãy phản hồi cho tôi! :)